Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2015

Triệu chứng của ung thư phần mềm

Khối u mô mềm thường phát sinh tại khối u tế bào lá, bao gồm tế bào da tự động thay đổi và tế bào da thật của khối u lành tính, u nang biến chứng, và khối u ác tính ở sâu trong mạc gân, đa phần khối u mô mềm thường là lành tính, biểu hiện của khối u ác tính và lành tính cũng khá giống nhau.


Triệu chứng của sác-côm mô mềm nghèo nàn. Khối u thường xuất hiện ở dưới da hoặc trong cơ ở giai đoạn sớm nhầm với u lành tính. Sau đó khối u phát triển rộng xâm lấn tổ chức xung quanh, có thể vỡ loét gây chảy máu, nhiễm trùng. Sác-côm mô mềm được phân loại theo mô học dựa vào nguồn gốc tế bào mô mềm mặc dù loại tế bào không thuộc vào hệ thống tiên lượng theo giai đoạn. Các nghiên cứu bổ sung, như hiển vi điện tử, hóa mô, đếm dòng tế bào, di truyền học tế bào và các nghiên cứu nuôi cấy mô cho phép nhận dạng một số dưới loại đặc hiệu trong các loại chính theo mô học. Cấp độ về mô học phản ánh khả năng di căn của những khối u này chính xác hơn so với việc phân loại tế bào kinh điển được liệt kê dưới đây. Về tổng thể, u sợi mô bào ác tính là loại ung thư thường gặp nhất theo phân loại mô học (chiếm 40%), tiếp đến là sác-côm mô mỡ (25%), tuy nhiên tần suất theo loại mô học phụ thuộc vào vị trí. Các nhà giải phẫu bệnh học phân cấp khối u theo số lượng gián phân trên một vi trường năng lượng cao, sự có mặt của hiện tượng hoại tử, hình thái tế bào và nhân và mức độ về số lượng tế bào; sự khác biệt ý kiến giữa các nhà giải phẫu bệnh học có thể lên tới 40% khi kiểm tra lại về sau.

Ung thư phần mềm Ống tiêu hóa có nguồn gốc trung mô và thường được phân biệt với sác-côm cơ trơn, u tế bào Schwan và sác- côm sợi bằng kỹ thuật hóa miễn dịch mô. Chúng có thể được phân biệt dựa vào sự có mặt của CD34 và CD117. Những khối u này trình diện thụ thể của yếu tố tăng trưởng có hoạt tính của tyrosine kinase được gọi là c-kit (CD117). Các u mô đệm ở thành dạ dày được coi là ác tính khi chúng có đường kính từ 5-10cm, có chỉ số gián phân cao hoặc đã di căn. Các u mô đệm ở ruột non được coi là ác tính nếu chúng có bất kỳ một gián phân nào hoặc có đường kính hơn 2cm. Các bằng chứng hiện nay cho thấy đột biến c-kit thường được phát hiện ra ở các u mô đệm ác tính hơn là ở các u lành tính. Cũng cần lưu ý là các u mô đệm ác tính thường có CD34 dương tính.

Triệu chứng ung thư phần mềm- Sác-côm mô mềm dạng nang
- Sác-côm mạch
- Sác-côm lồi dạng sợi ngoài da
- Sác-côm dạng biểu mô
- Sác-côm sụn ngoài khung xương
- Sác-côm xương ngoài khung xương
- Sác-côm sợi u mô đệm
- Ống tiêu hóa
- Sác-côm cơ trơn
- Sác-côm mô mỡ
- U sợi mô bào ác tính
- U tế bào quanh mao mạch ác tính
- U trung mô ác tính
- U tế bào Schwan ác tính
- U bao thần kinh ngoại vi ác tính
- U ngoại bì thần kinh ngoại vi
- Sác-côm cơ vân
- Sác-côm bao hoạt dịch
- Sác-côm khác

Triệu chứng bệnh ung thư vú nam

Ung thư vú không chỉ là nỗi sợ hãi của chị em phụ nữ mà còn là nỗi ám ảnh của các đấng mày râu.


Bệnh ung thư vú nam là một bệnh lý ác tính, các tế bào ung thư sinh ra từ các mô vú của nam giới. So với nữ giới, căn bệnh nguy hiểm này ít gặp ở nam giới hơn, chiếm 1% các trường hợp mắc bệnh ung thư vú. Theo ước tính khoảng 100 phụ nữ mắc bệnh thì phát hiện 1 trường hợp nam giới mắc ung thư vú.



Một số triệu chứng ung thư vú nam cảnh báo nguy cơ mắc bệnh bạn không thể bỏ qua như:

  - Có cảm giác sưng thành các cục nhỏ: có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng sưng bầu vú ở nam giới như dị ứng, cọ sát cơ học, tuy nhiên đây cũng là dấu hiệu cảnh báo tiềm ẩn nguy cơ mắc bệnh ung thư vú nam. Khi thấy vú có cảm giác sưng tấy, xuất hiện các cục nhỏ bạn cần đến ngay cơ sở y tế để khám và được chẩn đoán bệnh kịp thời.

- Xuất hiện khối u: Thông thường ngực của nam giới ít tuyến mỡ nên những khối u xuất hiện việc phát hiện dễ dàng hơn so với nữ giới. Bạn có thể tiến hành kiểm tra khối u bằng thao tác matxa theo vòng tròn xung quanh vú để phát hiện những biến đổi bất thường. Những khối u có thể là lành tính hay ác tính, tuy nhiên bạn nên thông báo với các bác sỹ sớm nhất tình trạng của mình.

- Da vùng ngực thay đổi: Ung thư da có thể gây ra các thay đổi về da rõ rệt trên vị trí này. Đặc trưng của bệnh nhân mắc bệnh ung thư vú nam là da trở nên sần sùi và xô gấp.

- Lún nhẹ da cả vùng ngực: Một khi phát hiện có những vết lún nhẹ hoặc các vết rạn xung quanh vùng núm vú thì nam giới nên đi khám. Đây có thể là dấu hiệu các khối u phát triển to dần khiến các vùng da trở nên căng hơn tạo thành các vết rạn

- Núm vú chảy dịch. Đột nhiên bạn phát hiện núm vú tiết dịch lạ, trong một số trường hợp xuất hiện máu tươi, đây có thể là biểu hiện bất thường của núm vú bị viêm nhiễm, nguy hiểm hơn có thể là triệu chứng cảnh báo nguy cơ mắc ung thư.

 Chẩn đoán ung thư vú nam giới là một căn bệnh nguy hiểm, phát hiện sớm giúp nâng cao hiệu quả điều trị, kéo dài thời gian sống, hạn chế tình trạng bệnh di căn. Tuy nhiên, ở nước ta các trường hợp phát hiện mắc bệnh ung thư vú nam thường ở giai đoạn muộn, biến chứng bệnh xấu. Nguyên nhân do nam giới thường có tâm lý chủ quan, chưa quan tâm đúng mức đến nguy cơ mắc bệnh của bản than. Nhiều trường hợp phát hiện bệnh song lại có tâm lý e ngại không đi thăm khám, điều trị khiến tình trạng bệnh xấu hơn.


Xem tiếp biểu hiện ung thư vú nam :
http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-vu-nam.aspx

Một số phương pháp điều trị ung thư đầu cổ hiện nay


Đầu – cổ là vùng có nhiều cơ quan quan trọng trên cơ thể con người như não, mắt – tai – mũi – lưỡi, là bộ phận đầu tiên của hệ tiêu hóa và đường hô hấp. Ung thư đầu cổ thuộc nhóm ung thư phát triển ở mũi, lưỡi, má, họng, amidan, thanh quản, tuyến nước bọt...

Một số phương pháp điều trị ung thư đầu cổ hiện nay bao gồm phẫu thuật, xạ trị, hóa trị.

1.     Phương pháp phẫu thuật

Phẫu thuật  là phương pháp kiểm soát và điều trị khối ung thư tại chỗ. Tùy vào giai đoạn bệnh bác sỹ sẽ áp dụng phương pháp phẫu thuật phù hợp.

- Phương pháp phẫu thuật  đơn độc: Đối với bệnh nhân mắc đầu cổ giai đoạn đầu: sử dụng phương pháp phẫu thuật cắt bỏ tế bào ung thư tại chỗ.

- Phương pháp phẫu thuật phối hợp: Đối với những bệnh nhân mắc bệnh ung thư đầu cổ giai đoạn muộn kết hợp với các phương pháp khác như hóa trị, xạ trị. Mục đích của phương pháp này là tiến hành cắt bỏ trực tiếp khối u tại chỗ và ngăn ngừa sự phát triển, di căn tới các mô khác.

2.     Phương pháp xạ trị áp sát

Là phương pháp sử dụng nguồn phóng xạ trực tiếp vào mô đích, đây là phương pháp điều trị tập trung liều xạ cao vào khối u, giảm thiểu liều chiếu và tác động tới các mô lành ở các vùng khác như tuyến nước bọt… Kỹ thuật này thường được áp dụng cùng với phương pháp xạ trị bên ngoài. Nguồn xạ trị có thể là liều thấp như cesium. Hiện nay vẫn phổ biến là sử dụng nguồn xạ trị Iridium- 192 liều cao.

Nếu phát hiện sớm ung thư vùng đầu cổ thì việc kết hợp giữa xạ trị và phẫu thuật là phương pháp mang lại hiệu quả cao. Trong 5 năm vừa qua tỉ lệ người sống xót sau điều trị ung thư vùng đầu cổ bằng phương pháp trên đạt tới 95%, một số bệnh nhân có thể khỏi hoàn toàn.

3.     Phương pháp hóa trị

Đây là phương pháp điều trị toàn thân vì nó có tác động đến toàn bộ các tế bào trên cơ thể. Một số hóa chất được đưa vào cơ thể thông qua đường truyền, tiêm hoặc uống để tiêu diệt tế bào ung thư. Lượng hóa chất này sẽ đi vào máu, lưu thông đến các tế bào bị ung thư làm ức chế quá trình phát triển hoặc tiêu diệt tế bào ung thư. Hóa trị thường được kết hợp với các phương pháp như phẫu thuật, xạ trị để mang lại hiệu quả cao hơn. Trong một số trường hợp bệnh nhân cũng được chỉ định dùng phương pháp hóa trị đơn lẻ.

Tùy vào giai đoạn bệnh lý, khả năng thích ứng của cơ thể người bệnh, bác sỹ sẽ chỉ định sử dụng phương pháp phù hợp. Tuy nhiên, các phương pháp trên đều có điểm chung là bệnh nhân đều phải chịu đau và các tác dụng phụ trong một thời gian kéo dài. Vì vậy việc phòng ngừa ung thư nói chung và ung thư vùng đầu cổ nói riêng là vô cùng quan trọng.

Nguyễn nhân, dấu hiệu ung thư tuyến tiền liệt


Theo Cơ quan Quốc tế Nghiên cứu về Ung thư (IARC), ung thư tiền liệt tuyến là 1 trong 10 ung thư thường gặp ở nam giới tại Việt nam (thống kê năm 2008).
Ung thư tiền liệt tuyến là bệnh lý ác tính xuất phát từ các tế bào tuyến bên trong tuyến tiền liệt. Do đó, ở giai đoạn đầu, các tế bào ung thư chỉ phát triển bên trong tuyến. Khi không được điều trị kịp thời, khối bướu sẽ to dần và xâm lấn ra bên ngoài tuyến đến các cấu trúc hoặc cơ quan lân cận như túi tinh, bàng quang và trực tràng. Khi đến giai đoạn trễ, các tế bào ung thư sẽ lan sang các cơ quan khác theo đường máu hoặc theo đường bạch huyết, thuật ngữ y khoa gọi đó là hiện tượng di căn. Ung thư tiền liệt tuyến thường di căn vào xương và hạch, tiếp theo là phổi và gan.

Dấu hiệu ung thư tuyến tiền liệt

Ở giai đoạn sớm, ung thư tiền liệt tuyến thường không có triệu chứng. Phần lớn được phát hiện nhờ các biện pháp tầm soát ung thư. Khi ung thư đã tiến triển đến một giai đoạn nhất định, khối bướu đủ lớn và chèn ép hoặc xâm lấn vào niệu đạo, người bệnh mới có các triệu chứng rối loạn đi tiểu như :
Tiểu khó (phải rặn mạnh mới tiểu được),
Tiểu lắt nhắt nhiều lần trong ngày,
Tiểu không hết nước tiểu,
Tiểu ra máu,
Thậm chí bí tiểu
Và một số triệu chứng khác như trong tinh dịch có máu. Trễ hơn nữa, khi đã di căn, bệnh nhân đi khám bệnh vì có hạch trong bụng hoặc trên cổ, vì đau nhức xương, thường ở xương chậu và cột sống.

Tuy nhiên, những triệu chứng kể trên không phải là triệu chứng đặc hiệu của ung thư tiền liệt tuyến. Chúng có thể là triệu chứng của một số bệnh lý lành tính khác. Nếu phát hiện mình có những triệu chứng bất thường, bạn nên đi khám để được chẩn đoán chính xác.
TẦM SOÁT VÀ CHẨN ĐOÁN UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN
1/ Tầm soát ung thư tiền liệt tuyến khi nào và bằng cách nào?
Ung thư tiền liệt tuyến là một trong số các ung thư có thể chữa khỏi hoàn toàn nếu được phát hiện sớm. Và may mắn là các biện pháp tầm soát khá đơn giản, dễ thực hiện cũng như rất hiệu quả. Đối tượng cần được tầm soát ung thư tiền liệt tuyến là :
Nam giới từ 50 tuổi,
Tiền sử gia đình có người thân bị ung thư tiền liệt tuyến (cha, anh em).
Biện pháp tầm soát bao gồm:
Khám tổng quát : Bác sĩ sẽ khám sức khỏe tổng quát để tìm ra các triệu chứng rối loạn đi tiểu, hạch, đau trong xương, v.v...
Khám tiền liệt tuyến qua ngã trực tràng (Digital Rectal examination - DRE) :  Bác sĩ sẽ sờ trực tiếp mặt sau tiền liệt tuyến để phát hiện các bất thường như : kích thước, thể tích, mật độ, các nhân cứng, sự xâm lấn qua các cấu trúc lân cận, v.v...
Xét nghiệm nồng độ PSA (Prostate specific antigen : kháng nguyên đặc hiệu cho tiền liệt tuyến): PSA là một protein do các tế bào tiền liệt tuyến sản xuất. Xét nghiệm nồng độ PSA trong máu là xét nghiệm máu duy nhất giúp phát hiện sớm ung thư. Ngoài ra, PSA còn là một xét nghiệm rất giá trị trong việc theo dõi sau điều trị. Khi làm xét nghiệm, bạn không cần chuẩn bị gì đặc biệt. Tuy nhiên, nếu đang sử dụng một loại thuốc nào đó, hoặc vừa được làm một xét nghiệm nào đó, bạn cần thông báo cho bác sĩ vì chúng có thể ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm. Ví dụ, PSA tăng cao trong phì đại tiền liệt tuyến, viêm tiền liệt tuyến, nhiễm trùng tiểu, sau sinh thiết tiền liệt tuyến, v.v... Bác sĩ sẽ dựa vào đó để phân tích kết quả. Giá trị của nồng độ PSA như sau :
Dưới 4 ng/ml : PSA bình thường.
Từ 4 đến 10 ng/ml : PSA cao hơn bình thường, không nghi ngờ nhưng cần theo dõi.
Trên 10 ng/ml : PSA cao và đáng nghi ngờ, có thể mắc ung thư.
Nếu các triệu chứng khi thăm khám và PSA đều nghi ngờ ung thư, việc cần làm tiếp theo là sinh thiết tiền liệt tuyến.
2/  Chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt
Sinh thiết tiền liệt tuyến : Đây là một thủ thuật tương đối đơn giản, có thể thực hiện sau khi gây tê tại chỗ. Để bảo đảm sinh thiết đúng vị trị có tổn thương, siêu âm được sử dụng như là một phương pháp định vị. Thuật ngữ y khoa gọi là sinh thiết dưới hướng dẫn siêu âm. Khi làm sinh thiết, các bác sĩ niệu khoa phải lấy nhiều mẩu mô ở nhiều vị trí khác nhau để xác định mức độ lan rộng bên trong tuyến. Tất cả những mẩu mô này sẽ được lấy ra và chuyển đến phòng xét nghiệm Giải phẫu bệnh. Tại đây, các bác sĩ giải phẫu bệnh sẽ xác định có sự hiện diện của tế bào ung thư hay không. Việc sinh thiết tiền liệt tuyến hầu như không gây ra biến chứng nghiêm trọng nhưng vẫn có thể xảy ra một số phản ứng phụ thoáng qua. Sau khi làm sinh thiết, bệnh nhân có thể thấy có máu trong tinh dịch, tiểu ra máu, xuất huyết ở trực tràng, viêm tiền liệt tuyến, viêm mào tinh hoàn, tiểu khó, v.v...

3/Chẩn đoán giai đoạn :
Sau khi đã chẩn đoán xác định một bệnh nhân mắc ung thư, bước tiếp theo là phải xác định được mức độ nặng nhẹ của căn bệnh. Việc chẩn đoán giai đoạn rất quan trọng và không thể bỏ qua. Ngoài việc dựa vào các triệu chứng lâm sàng, kết quả PSA và giải phẫu bệnh, bác sĩ còn cần thêm một số chẩn đoán hình ảnh để có thể xếp chính xác giai đoạn bệnh.
PSA : nồng độ PSA càng cao thì nguy cơ di căn càng nhiều.
Thang điểm Gleason : bác sĩ giải phẫu bệnh xác định điểm Gleason bằng cách cho điểm từ 3 đến 5 cho hai loại mô phổ biến nhất trong mẩu sinh thiết. Hai điểm này được cộng lại để được điểm Gleason. Điểm Gleason thấp (từ 6 trở xuống) đồng nghĩa với bệnh ung thư tiến triển chậm. Điểm Gleason cao (từ 8 đến 10) là một cảnh báo về khả năng tiến triển nhanh của căn bệnh. Song song, bác sĩ giải phẫu bệnh cũng sẽ xem xét thể tích khối bướu chiếm bao nhiêu phần trăm thể tích tuyến tiền liệt. Nếu bệnh nhân có một khối bướu nhỏ và điểm Gleason thấp, bác sĩ có thể sẽ chọn phương pháp điều trị nhẹ nhàng hơn.
Chụp cắt lớp (CT scan) hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI) : đây là 2 kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh rất hữu ích giúp cho bác sĩ thấy rõ tổn thương ở tiền liệt tuyến, sự xâm lấn các cấu trúc hoặc cơ quan chung quanh, và tình trạng di căn hạch, các cơ quan khác nếu có.
Xạ hình xương : giúp phát hiện các di căn vào xương.
Các giai đoạn
Ung thư tuyến tiền liệt được xếp loại theo hệ thống Gleason – hệ thống đánh giá các tế bào ung thư được tổ chức tốt hay kém như thế nào, dưới kính hiển vi.
Mức độ 1: Mô ung thư trông giống như mô tuyến tiền liệt bình thường.
Mức độ 2 đến 4: Một số tế bào giống như tế bào bình thường, một số khác thì không. Với các đặc trưng khác nhau giữa hai loại.
Mức độ 5: Các tế bào ung thư và các khối phát triển trông rất bất thường.
Vì các ung thư tuyến tiền liệt thường xảy ra ở nhiều khu vực với những mức độ khác nhau, 2 mức độ tiêu biểu sẽ được chọn ở 2 vùng có nhiều tế  bào ung thư nhất. 2 mức độ này được cộng vào với nhau để tạo nên số điểm Gleason từ 2 đến 10.
Một điểm số Gleason dưới 6 cho thấy ung thư ít nghiêm trọng. Một điểm sô từ 7 trở lên được coi là xâm lấn và nhiều khả năng là ung thư sẽ phát triển và lây lan nhanh chóng.

ĐIỀU TRỊ & CHĂM SÓC

Một khi đã có chẩn đoán xác định và chẩn đoán giai đoạn, các bác sĩ sẽ chọn lựa chiến lược điều trị thích hợp cho từng bệnh nhân. Các phương pháp điều trị hiệu quả bao gồm :
PHẪU THUẬT : Đây là loại phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ tiền liệt tuyến và các mô xung quanh. Phẫu thuật này được chỉ định khi ung thư vẫn còn khu trú bên trong tiền liệt tuyến, chưa lan ra ngoài (giai đoạn I và II). Phẫu thuật cắt tiền liệt tuyến có thể thực hiện bằng mổ hở hoặc mổ nội soi.
XẠ TRỊ NGOÀI (gắn link vào brochure xạ trị) : Đây là phương pháp điều trị sử dụng tia bức xạ năng lượng cao để tiêu diệt các tế bào ung thư. Ưu điểm của phương pháp này là hiệu quả và có thể chỉ định cho mọi giai đoạn bệnh khi cần thiết.

Nội tiết tố liệu pháp: Nguyên lý của điều trị nội tiết là triệt tiêu các nội tiết tố nam (các Androgen, trong đó chủ yếu là Testosterone). Khi không còn các nội tiết tố nam, bệnh sẽ thoái triển. Có 2 phương pháp điều trị nội tiết :
Triệt tiêu nội tiết tố nam bằng phẫu thuật cắt tinh hoàn. Phẫu thuật được sử dụng nhiều nhất hiện nay là cắt tinh hoàn trong vỏ bao, vừa đạt hiệu quả điều trị vừa thẩm mỹ.
Triệt tiêu nội tiết tố nam bằng điều trị nội khoa. Bệnh nhân sẽ được dùng thuốc để triệt tiêu nội tiết tố nam. Phương pháp được chỉ định khi bệnh nhân từ chối phẫu thuật hoặc khi bệnh nhân có chống chỉ định phẫu thuật.
Hóa trị: Phương pháp này ít khi được áp dụng và chỉ được chỉ định cho những trường hợp điều trị nội tiết thất bại.
Chỉ định điều trị theo giai đoạn :
Chiến lược điều trị tối ưu cho từng bệnh nhân sẽ được thảo luận và quyết định trong các buổi hội chẩn đa chuyên khoa với sự hiện diện của bác sĩ Ung bướu nội khoa và xạ trị, bác sĩ Niệu khoa, bác sĩ Chẩn đoán hình ảnh, bác sĩ Giải phẫu bệnh, v.v... Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định điều trị bao gồm :
Tuổi : bệnh nhân càng lớn tuổi thì các phương pháp điều trị được chọn phải càng ít xâm lấn. Đặc biệt phải lưu ý đến tuổi thọ trung bình của dân số khi dự đoán thời gian sống thêm của bệnh nhân.
Tình trạng sức khoẻ và các bệnh lý đi kèm : bệnh nhân có sức khoẻ kém hoặc nhiều bệnh lý thì không nên chọn các phương pháp điều trị xâm lấn.
Điểm số Gleason : giúp dự đoán sự tiến triển và khuynh hướng di căn của bệnh.
Giai đoạn bệnh : bệnh được phát hiện ở giai đoạn càng muộn thì điều trị càng phức tạp, càng tốn kém, thời gian điều trị càng kéo dài và kém hiệu quả.
Ngoài ra, sự phối hợp các yếu tố PSA, Gleason và giai đoạn giúp các bác sĩ phân loại được các nhóm bệnh nhân theo nguy cơ tái phát và di căn :
Nguy cơ rất thấp và nguy cơ thấp.
Nguy cơ trung gian.
Nguy cơ cao.
Nguy cơ rất cao.
Bệnh đã di căn.
Từ đó, các bác sĩ chọn được chiến lược và các phương pháp điều trị tối ưu.
Một số chỉ định điều trị thường gặp :
Giai đoạn I và II : Bướu còn khu trú trong tiền liệt tuyến. Có thể điều trị hoặc bằng phẫu thuật đơn thuần, hoặc bằng xạ trị đơn thuần. Cả 2 phương pháp đều có tỉ lệ khỏi bệnh tương đương.
Giai đoạn III : Bướu lan rộng tại chỗ nhưng chưa di căn xa đến các cơ quan hoặc các tạng khác. Kết hợp nội tiết tố liệu pháp và xạ trị là chỉ định được chọn lựa đầu tiên. Phẫu thuật được cân nhắc và chọn lựa trong một vài tình huống chọn lọc.
Giai đoạn IV : Bướu đã di căn. Nội tiết tố liệu pháp là chọn lựa đầu tiên. Xạ trị có thể được chỉ định để giải quyết các tắc nghẽn đường tiểu hay các chèn ép vùng chậu. Đối với các di căn xương, xạ trị được chỉ định để giảm đau, đôi khi phẫu thuật kết hợp xương được chỉ định để giải quyết các tình huống có nguy cơ gãy xương bệnh lý, có nguy cơ chèn ép tủy sống.
Trong tình huống bệnh nhân lớn tuổi, thời gian sống thêm dưới 5 năm, bệnh được phát hiện ở giai đoạn sớm, không có triệu chứng, các biện pháp điều trị có thể không cần thiết vì không mang lại lợi ích cho bệnh nhân. Ngược lại, đôi khi việc điều trị lại làm giảm chất lượng sống của bệnh nhân. Do đó, bệnh nhân chỉ cần được theo dõi và chỉ xử trí khi có triệu chứng.
Trong tình huống bệnh nhân có nhiều bệnh lý làm tăng nguy cơ khi phẫu thuật, hoặc có những chống chỉ định phẫu thuật tuyệt đối, xạ trị là chọn lựa hợp lý và tối ưu.
Nhìn chung, ung thư tiền liệt tuyến là loại ung thư có khuynh hướng phát triển chậm và có khả năng trị khỏi cao. Ở giai đoạn sớm, việc điều trị đơn giản, ít tốn kém tiền bạc và thời gian, hiệu quả cao. Ở giai đoạn muộn, việc điều trị tuy phức tạp hơn nhưng bệnh vẫn có thể kiểm soát được, bệnh nhân vẫn có thể sống thêm rất nhiều năm với chất lượng cuộc sống rất tốt nhờ vào sự nhạy cảm với nội tiết tố liệu pháp và xạ trị.
Ai là người có nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến sẽ có những triệu chứng ung thư tuyến tiền liệt như sau:
Mặc dù những nguyên nhân gây bệnh ung thư tiền liệt tuyến chưa được biết rõ, nhưng một số yếu tố nguy cơ đã được xác định :
Tuổi tác : Nam giới càng lớn tuổi, càng gia tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư tiền liệt tuyến. Hầu hết các trường hợp ung thư tiền liệt tuyến xảy ra ở nam giới từ 50 tuổi trở đi.
Tiền sử gia đình : Trong 5 – 10% bệnh nhân bị ung thư tiền liệt tuyến, trong gia đình họ có cha hoặc anh em trai cùng bị ung thư tiền liệt tuyến. Điều này đã được chứng minh là do họ cùng mang gen bất thường liên quan đến ung thư tiền liệt tuyến. Nói cách khác, nếu trong gia đình đã từng có người trực thuộc huyết thống bị ung thư tiền liệt tuyến thì bạn được xếp vào nhóm có nguy cơ cao.
Ngoài ra, những người bị béo phì, ăn quá nhiều thịt hoặc chất béo có nguồn gốc từ động vật, quan hệ tình dục sớm, hoặc có tiền sử mắc bệnh lây lan qua đường tình dục, có nhiều bạn tình… đều có nguy cơ cao mắc bệnh ung thư tiền liệt tuyến. Những người có tiền sử gia đình có người mắc bệnh cũng có nguy cơ cao.
Vì vậy, lối sống lành mạnh, ăn ít thịt không chỉ giúp bạn ngăn ngừa được ung thư tiền liệt tuyến mà còn nhiều bệnh ung thư khác.

Xem tiếp biểu hiện ung thư tuyến tiền liệt:
http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-tuyen-tien-liet.aspx

5 điều nam giới cần biết về ung thư tuyến tiền liệt

Đàn ông dưới 50 tuổi, được chẩn đoán mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt, đã tăng gấp gần sáu lần trong 20 năm qua. Nếu bạn đang ở độ tuổi dưới 50, dưới đây là 5 điều bạn nên biết về xu hướng phát triển của căn bệnh nguy hiểm này.


1. Ngày càng trẻ hóa
Ung thư tuyến tiền liệt vốn được coi là bệnh thường xảy ra ở những người đàn ông độ tuổi 70 đến 80 tuổi. Hầu hết các khối u ung thư trong tuyến tiền liệt còn nhỏ và phát triển chậm. Trong thực tế, nhiều trường hợp tử vong vì loại ung thư này mà lại lầm tưởng vì những căn bệnh khác.
Những người trẻ dưới 50 tuổi thường không chú trọng đến việc xét nghiệm PSA và khám trực tràng. Xét nghiệm PSA đo mức kháng nguyên đặc hiệu với tuyến tiền liệt (PSA) trong máu. Đó là xét nghiệm máu giúp chẩn đoán bệnh về tuyến tiền liệt. PSA là một loại Protein được tạo ra chủ yếu ở tuyến tiền liệt và bình thường thì trong máu có một lượng nhỏ PSA. Với nam giới có tuổi, tuyến tiền liệt to ra và mức PSA cũng tăng theo. Ung thư tuyến tiền liệt thường không có triệu chứng rõ ràng ở giai đoạn đầu. Các nhà khoa học cho rằng, ung thư tuyến tiền liệt nên được chẩn đoán ở nam giới trẻ hơn 55 tuổi để tăng hiệu quả điều trị ung thư tuyến tiền liệt

2. Yếu tố di truyền
Một nguyên nhân khác gây bệnh ung thư tuyến tiền liệt là yếu tố di truyền. Nếu cha, anh trai, chú hoặc ông nội bị ung thư tuyến tiền liệt, bạn hãy quan tâm nhiều hơn đến căn bệnh này vì nam giới có tiền sử gia đình về ung thư tuyến tiền liệt có nguy cơ mắc bệnh cao hơn 2-3 lần so với người thường.
3. Nguy cơ từ chế độ ăn uống không lành mạnh
Hơn hai mươi nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng, ăn nhiều thịt đỏ làm tăng nguy cơ phát triển ung thư tuyến tiền liệt. Nhưng đó không phải tất cả.
Chiên và chế biến thực phẩm, mỡ động vật bão hòa và một chế độ ăn tăng sữa và thậm chí có thể đẩy nhanh quá trình tiến triển của bệnh ung thư. Cũng giống như các bệnh nghiêm trọng khác, béo phì cũng là một yếu tố gây tăng nguy cơ mắc ung thư tuyến tiền liệt.

4. Cân nhắc phương pháp điều trị
Các câu hỏi liệu đàn ông dưới 50 tuổi bị mắc loại ung thư này có cần phải phẫu thuật ngay lập tức, hoặc họ phải chờ đợi xem tình hình tiến triển của khối u như thế nào, vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi trong giới khoa học.
Trong khi có những dấu hiệu ung thư tuyến tiền liệt thường phát triển chậm ở nam giới lớn tuổi. Phẫu thuật có thể gây tác dụng phụ đáng kể, chẳng hạn như khả năng rối loạn chức năng cương dương suốt đời hoặc tiểu không tự chủ kinh niên.
Đối với nam giới ở độ tuổi 30 hoặc 40, điều này có thể là một quyết định khó khăn. Cần có một sự cân nhắc kỹ lưỡng khi xác định phẫu thuật.
5. Kiểm tra định kỳ hằng năm
Việc khám định kỳ là một thói quen tốt thể hiện một lối sống lành mạnh và cần thiết để ngăn chặn ung thư và các bệnh nghiêm trọng khác. Ung thư tuyến tiền liệt là một căn bệnh có thể điều trị khi được phát hiện kịp thời. Ở độ tuổi trên 40, thử nghiệm PSA là rất thích hợp cho bạn để bảo vệ sức khỏe.

Cách phát hiện sớm ung thư dạ dày


Ung thư dạ dày là bệnh thường gặp ở Việt Nam, theo ghi nhận ung thư ở Hà Nội đứng hàng thứ hai trong các bệnh ung thư. Bệnh ung thư dạ dày gặp ở người lớn và mọi lứa tuổi nhưng hiếm khi gặp ở người dưới 50 tuổi, ở nam nhiều hơn ở nữ.
Ung thư dạ dày là gì?

Ung thư là bệnh của các tế bào cơ thể. Bình thường các tế bào trong cơ thể phân chia theo trình tự nhất định. Tuy nhiên đôi khi vài tế bào phân chia bất thường và phát triển thành khối u. Khối u có thể là lành tính (không phải là ung thư) hoặc là ác tính (là ung thư).

Khối u ác tính gồm các tế bào ung thư. Nếu không được điều trị, các tế bào này sẽ xâm lấn và phá hủy các mô xung quanh. Các tế bào ung thư thường tách khỏi ung thư ban đầu và đến các cơ quan khác. Khi những tế bào này đến vị trí mới, chúng tiếp tục phát triển thành khối u, khối u này được gọi là di căn. Ung thư dạ dày hay đi theo đường hệ thống bạch mạch để đến các bộ phận khác của cơ thể.

Nguyên nhân gây bệnh

Các nguyên nhân gây ung thư dạ dày vẫn chưa được biết chính xác. Ở những người có tiền sử loét dạ dày và từng bị thiếu máu ác tính thì có nguy cơ cao bị ung thư dạ dày.

Triệu chứng ung thư dạ dày

Các triệu chứng của ung thư dạ dày thường là mơ hồ và không đặc hiệu. Hay gặp nhất là chứng khó tiêu, có thể kèm theo khó chịu, đau âm ỉ, chướng bụng, ợ hơi, buồn nôn, chán ăn. Những triệu chứng này dễ bị bỏ qua nhưng bạn phải đi khám nếu các triệu chứng này kéo dài hơn 2 tuần. Các biểu hiện khác có thể là: nôn, gầy sút, mệt mỏi, thiếu máu, đau bụng hoặc đi ngoài phân đen.

Để chẩn đoán ung thư dạ dày cần làm  gì?

- Bác sĩ hỏi bệnh và khám bệnh kĩ càng.

- Chụp phim Xquang dạ dày dùng thuốc cản quang.

- Nội soi dạ dày bằng ống soi mềm, sinh thiết chẩn đoán và có thể chụp ảnh dạ dày qua ống nội soi.

- Khi một người bệnh được chẩn đoán là ung thư dạ dày thì cần làm thêm một số xét nghiệm nữa để đánh giá sự phát triển của ung thư đến các cơ quan khác. Điều này giúp cho bác sĩ đưa ra cách điều trị tốt nhất. Đó là các xét nghiệm chụp cắt lớp vi tính và siêu âm.

Các phương pháp điều trị ung thư dạ dày

Ung thư dạ dày có thể được điều trị bằng các phương pháp: phẫu thuật, hóa trị liệu và tia xạ.

Phẫu thuật:

Phương pháp điều trị đầu tiên và chủ yếu đối với các ung thư dạ dày giai đoạn sớm là phẫu thuật: cắt bỏ một phần hay toàn bộ dạ dày. Sau 5 ngày bệnh nhân đã có thể uống và ăn trở lại. Sau phẫu thuật 10-14 ngày, bệnh nhân có thể ra viện.

Những trường hợp ung thư giai đoạn cuối có thể: Phẫu thuật tạm thời, nhằm lập lại lưu thông của đường tiêu hóa, kéo dài cuộc sống cho người bệnh.

Hóa chất trị liệu:

Đây là phương pháp điều trị bằng các thuốc chống ung thư đặc biệt. Các thuốc này thường được dùng phối hợp với nhau trong một tuần, sau đó nghỉ thuốc 2 hoặc 3 tuần rồi lại dùng tiếp. Nếu ung thư ở giai đoạn sớm, hóa trị liệu dùng để hỗ trợ cho phẫu thuật, tia xạ hoặc cả hai, nhằm mục đích tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại trong cơ thể để tránh tái phát ung thư dạ dày sau này.

Hóa trị liệu sẽ có một số tác dụng phụ nhưng các tác dụng phụ này là tạm thời và có thể làm giảm được.

Điều trị bằng tia xạ:

Biện pháp này dùng các tia phóng xạ để diệt các tế bào ung thư. Các tia phóng xạ này được tính toán chính xác trên vị trí của ung thư để giảm tác hại đối với các mô lành. Trong ung thư dạ dày, điều trị bằng tia xạ sau phẫu thuật để tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại. Điều trị bằng tia xạ có thể được dùng cùng với hóa chất trị liệu để làm nhỏ khối u và làm giảm các triệu chứng.

Nhật Bản là nước có tỉ lệ ung thư dạ dày cao trên thế giới, đã thành công trong chương trình phát hiện sớm để phẫu thuật có hiệu quả cao, đạt tới 80% số bệnh nhân sống sau 5 năm. Cả thế giới công nhận và áp dụng kĩ thuật đó. Việt Nam cũng là nước có tỉ lệ mắc cao, cần thiết phải hiểu biết để có sự quan tâm thích đáng tới bệnh ung thư dạ dày

Nguồn :
http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-da-day.aspx

Dấu hiệu bệnh ung thư phổi nên quan tâm


Mặc dù ung thư phổi giết chết khoảng 1,3 triệu người mỗi năm trên thế giới nhưng đây không phải là bệnh khó phát hiện và phòng ngừa. Những chẩn đoán bệnh sớm có thể giúp bạn tránh nguy cơ tử vong tới 50% và còn có thể phòng tránh các tế bào ung thư lây lan sang các bộ phận khác trong cơ thể.

Nếu kịp thời phát hiện 10 dấu hiệu ung thư phổi như dưới đây thì bạn có thể điều trị bệnh hiệu quả hơn rất nhiều.

1. Thở nặng nhọc

Khó thở hoặc thở khò khè có thể không phải là một triệu chứng nghiêm trọng. Tuy nhiên, nếu bạn đột nhiên khó thở sau khi chạy lên cầu thang trong khi trước đây bạn không bị như vậy thì bạn nên nói chuyện với bác sĩ sớm. Bởi những triệu chứng này rất có thể do một khối u ở phổi gây ra, cản trở việc hô hấp của bạn.

2. Ho nhiều

Ho dai dẳng dẫn đến khàn giọng, tình trạng khàn giọng kéo dài vài tuần không khỏi... có thể là do vấn đề ở phổi gây ra, ví dụ như viêm phổi, nhiễm trùng phổi. Tuy nhiên, nhiều người lại cho rằng triệu chứng này do cảm lạnh hoặc dị ứng gây ra nên không đi kiểm tra. Kết quả là tình trạng viêm ở phổi tăng nặng hơn, dẫn đến ung thư phổi nếu không được điều trị kịp thời.

3. Giảm cân nhanh chóng không rõ nguyên nhân

Trong bất kì trường hợp nào, sự sụt cân diễn ra nhanh chóng mà không rõ nguyên nhân, không liên quan đến việc bạn đã cắt giảm calo hoặc tập thể dục... thì rất có thể là do bệnh tật gây ra, kể cả bệnh ung thư. Thêm vào đó, nếu bạn cảm thấy ăn không ngon miệng thì càng dễ kết luận nguyên nhân có thể là do một khối u bên trong cơ thể bạn gây ra, không ngoại trừ khối u ở phổi, dẫn đến ung thư phổi sau này. Khối u này sẽ là tăng đột ngột sự trao đổi chất trong cơ thể bạn và gây ra tình trạng trên.

4. Đau ngực

Một triệu chứng điển hình của ung thư phổi là đau ngực, nhất là khi bạn cảm thấy đau sâu trong phổi mỗi khi nhấc một cái gì đó, khi bạn ho hoặc cười. Ngoài ra, dấu hiệu đau dai dẳng trong ngực mà không hết sau một thời gian dài cũng có thể là một biểu hiện ung thư phổi mà bạn cần chú ý.

5. Đau tay và các ngón tay

Đau và mỏi ở các ngón tay có thể là hai dấu hiệu cảnh báo sớm của bệnh ung thư phổi mà nhiều người có xu hướng bỏ qua. Trong phần lớn các trường hợp, khi da của lòng bàn tay trở nên dày và có màu trắng với nếp nhăn rõ rệt thì càng có nhiều khả năng bạn có nhưng biểu hiện ung thư phổi. Bạn nên đi khám để xác định tình trạng bệnh của mình.


6. Đờm có lẫn máu

Ho ra đờm có lẫn máu không bao giờ là dấu hiệu tốt, ngay cả khi lượng máu đó rất ít hoặc nhạt màu. Nếu bạn gặp tình trạng này, nên đi khám ngay lập tức vì nó có thể là dấu hiệu cảnh báo sớm bệnh ung thư phổi hoặc một bệnh nghiêm trọng nào đó trong cơ thể bạn.

7. Thay đổi tâm trạng thất thường

Bạn cảm thấy mình có thể dễ dàng thay đổi tâm trạng nhanh chóng, hay giận dữ và khó chịu, tiếp theo là mệt mỏi và thậm chí trầm cảm... thì rất có thể bạn đang có nguy cơ bị ung thư phổi hoặc bệnh ung thư nào đó. Vì bệnh ung thư có thể làm cho bạn bị rối loạn nội tiết, kích thích các dây thần kinh kiểm soát cảm xúc...

8. Thường xuyên bị nhiễm trùng

Ung thư phổi có thể gây ra tình trạng nhiễm trùng ảnh hưởng đến đường hô hấp và dẫn đến các bệnh như viêm phế quản hoặc các bệnh nhiễm trùng mãn tính khác. Nếu bạn bị nhiễm trùng phổi mãn tính, bạn nên dành thời gian đi chụp X-quang phổi để biết mình có nguy cơ bị ung thư phổi hay không.

9. Đau vai

Đau vai có thể xảy ra nếu một khối u phổi phát triển và gây áp lực lên phần trên của phổi và các dây thần kinh ở nách. Áp lực này thường sẽ dẫn đến đau nhức, ngứa ran và cảm giác đau ở vai, bên trong cánh tay và bàn tay.

10. Bất thường ở các mô vú

Dấu hiệu ung thư phổi này thường gặp ở nam giới nhiều hơn. Đó là tình trạng vùng ngực to lên bất thường do các tế bào bệnh ung thư kích thích sự tiết nội tiết tố một cách bất thường. Tuy nhiên, chị em cũng không nên bỏ qua điều này, vì rất có thể đó là do các tế bào ung thư phổi hoặc ung th ở bộ phận khác gây ra.