Nam giới ít có nguy cơ bị ung thư vú hơn phụ nữ, nhưng khi đã được chẩn đoán bị bệnh thì tỉ lệ tử vong do ung thư vú ở nam giới lại cao hơn phụ nữ khá nhiều.
Đàn ông được chẩn đoán ung thư vú nam ít hơn phụ nữ, theo một phân tích mới về tỷ lệ ung thư từ 6 thành phố của Hoa Kỳ. Nhưng khi họ mắc phải ung thư vú, hầu hết đều mắc bệnh nặng hơn và có nhiều khả năng tử vong hơn. Trong 2 thập niên 60 và 70, nhiều người đàn ông đã được chẩn đoán mắc phải ung thư vú. Việc tiếp xúc với bức xạ và mắc phải các bệnh khác chẳng hạn như xơ gan hoặc hội chứng Klinefelter làm tăng mức độ estrogen và làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú.
Các chuyên gia nói thêm rằng những người đàn ông có mẹ hoặc người thân từng mắc ung thư vú nam nên đến bệnh viện để sàng lọc chứng bệnh này nhằm phát hiện bệnh sớm nhất có thể.
Thế nhưng các chuyên gia cũng đồng tình rằng nam giới khỏe mạnh và không có ai trong gia đình từng mắc ung thư vú thì cũng không cần tiến hành kiểm tra sàng lọc bệnh như phụ nữ. Các nhà nghiên cứu cho rằng, nam giới có tỉ lệ tử vong do ung thư vú cao một phần là do họ ít khi được phổ biến về căn bệnh này, cũng như ít quan tâm đến sức khỏe của bộ phận này, khiến bệnh được chẩn đoán khi đã khá muộn. Nhóm nghiên cứu cũng cho biết thêm rằng, áp dụng các liệu pháp điều trị như phẫu thuật, hóa trị, xạ trị giống nhau thì tỉ lệ sống sót 5 năm của nam giới chỉ là 72%, thấp hơn phụ nữ 6%.
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu dẫn đầu bởi Tiến sĩ Mikael Hartman của Đại học Quốc gia Singapore đã phát hiện thấy rằng khi bệnh ung thư của cả hai phái được phát hiện ở cùng một giai đoạn và họ chấp nhận những bước điều trị như bác sĩ đã khuyến cáo, thì đàn ông đã có một cơ hội khỏi bệnh cao hơn so với phụ nữ trong việc điều trị ung thư vú.
Hartman cũng lưu ý rằng nghiên cứu trước đây đã cho thấy thường mất một vài tháng từ khi người đàn ông bắt đầu nhận được các triệu chứng cho đến khi họ được chẩn đoán bị ung thư vú.
“triệu chứng ung thư vú nam giới là hiếm nhưng đàn ông cũng có thể phát triển bệnh và cần lưu ý rằng họ nên tìm kiếm sự chăm sóc y tế thích hợp nếu một khối u vú phát triển", Tiến sĩ Hartman cảnh báo.
Thứ Hai, 2 tháng 2, 2015
Ung thư đầu cổ, phòng và điều trị thế nào tốt nhất?
Ung thư vùng đầu cổ là một trong nhưng loại ung thư chiếm tỷ lệ cao trong những loại ung thư của con người gặp phải. Thông thường khó phát hiện bằng mắt thường ngoại trừ những ung thư ngoài da vùng đầu mặt đi vào trong nhưng chiếm tỷ lệ thấp. Các loại ung thư ở vùng đầu cổ thường gặp nhất là: ung thư vòm họng, ung thư sàng hàm, ung thư Amidal, ung thư hạ họng - thanh quản, ung thư hạch vùng cổ, ung thư tuyến giáp, ung thư lưỡi.
Hội thảo khoa học "Tiến bộ trong tầm soát và điều trị ung thư đầu mặt cổ" do Cục Quản lý Khám Chữa Bệnh – Bộ Y Tế, Đài truyền hình An Viên, Báo Điện tử Kiến Thức và Trung tâm điều trị Ung thư Hy vọng kết hợp tổ chức diễn ra tại Hà Nội mới đây đã tập trung giới thiệu và chia sẻ những tiến bộ trong tầm soát và điều trị ung thư đầu mặt cổ.
Phát biểu tại hội thảo, PGS. TS. Nguyễn Đại Bình - Phó giám đốc bệnh viện K cho biết: "Ở Việt Nam, ung thư vùng đầu cổ gặp khá nhiều, nổi bật ung thư vòm, hạ họng - thanh quản, lưỡi, khoang miệng. Người ở độ tuổi từ 49 - 53 thường mắc ung thư hạ họng - thanh quản, ung thư lưỡi. Tuy nhiên, ở Việt Nam, ung thư này có đặc điểm khác với phương Tây. Nguyên nhân chính là do thói quen sinh hoạt như uống rượu, hút thuốc, ăn trầu...
Tại Việt Nam, điều trị ung thư đầu cổ có chiến lược điều trị riêng biệt dựa vào xạ trị, hóa trị và thuốc chống vi rút. Tuy nhiên, điều trị chống vi rút ở giai đoạn 1 và 2 xạ trị đơn thuần có kết quả. Giai đoạn 3 cần kết hợp xạ và hóa trị. Ở giai đoạn 4 thì điều trị triệu chứng. Sau điều trị cần theo dõi tái phát, sống thêm, dùng thuốc và thực phẩm chống lão hóa, chống viêm nhiễm mạn tính ngừa tái phát".
Nói về phương pháp điều trị ung thư cùng đầu cổ giai đoạn muộn, Đại tá TS. Bs Nguyễn Kim Lưu cho biết: "Ung thư đầu và cổ đề cập đến một nhóm các bệnh ung thư: môi, khoang miệng (vòm họng, amydal, sàn miệng), khoang mũi (bên trong mũi), các xoang cạnh mũi , hạ họng - thanh quản …
Theo đó, xạ trị áp sát là phương pháp đưa nguồn phóng xạ trực tiếp vào mô đích, đây là kỹ thuật nhằm tập trung liều xạ cao vào khối u, giảm liều chiếu và hạn chế biến chứng mô lành (như tuyến nước bọt mang tai, xương). Kỹ thuật này thường ít khi sử dụng riêng lẽ, mà thường phối hợp với xạ trị ngoài. Nguồn xạ sử dụng có thể là xuất liều thấp như césium. Ngày nay nguồn xạ Iridium - 192 trong xạ trị suất liều cao đã được sử dụng phổ biến".
Triệu chứng lâm sàng không có gì nổi bật như: ngặt mũi, chảy nước mũi, đau đầu, ù tai, nuốt vướng, khạc ra máu, khàn tiếng, đau cổ và một số vết loét vùng đầu cổ, nổi hạch..., vì vậy để nhận biết được bệnh ung thư đòi hỏi người bệnh phải được khám bằng phương pháp nội soi, chụp City, siêu âm, MRI, đặc biệt giải phẫu bệnh là hết sức cần thiết.
Nếu phát hiện sớm có những dấu hiệu ung thư đầu cổ thì việc phẫu thuật cắt khối u phối hợp với xạ trị đem lại kết quả rất tốt, tỷ lệ sống trên 5 năm đạt trên 95%, một số trường hợp sau khi phẫu thuật có thể khỏi hoàn toàn. Ngược lại, nếu không được phát hiện kịp thời khi khối u đã lan ra các tổ chức lân cận hoặc di căn khi đó việc điều trị gặp rất nhiều khó khăn, tỷ lệ sống trên 5 năm là rất thấp.
Để phòng ngừa ung thư, mọi người cần hạn chế sử dụng các chất kích thích như: rượu, bia, thuốc lá... Thường xuyên vệ sinh răng miệng, mũi họng; Làm việc trong môi trường độc hại phải có dụng cụ bảo vệ; Khám điều trị sớm bệnh đầu mặt cổ; Để phát hiện bệnh sớm đòi hỏi mỗi người bệnh khi có các biểu hiện như: khàn tiếng, nuốt vướng nuốt khó, ngạt mũi, ù tai một bên hoặc hai bên, có khối u - hạch vùng cổ, vết loét vùng cổ nên đến ngay có sở y tế để được khám xét nghiệm phát hiện kịp thời.
Đặc biệt, đối với những người từ 50 tuổi trở lên có tiền sử hút thuốc lá, nghiện rượu lâu năm hoặc một số người làm việc trong môi trường độc hại khi có các triệu chứng trên cần đến cơ sở y tế khám đồng thời để bảo vệ sức khỏa cho bản thân mọi người cần được kiểm tra sức khỏe định kỳ 6 tháng một lần./.
Hội thảo khoa học "Tiến bộ trong tầm soát và điều trị ung thư đầu mặt cổ" do Cục Quản lý Khám Chữa Bệnh – Bộ Y Tế, Đài truyền hình An Viên, Báo Điện tử Kiến Thức và Trung tâm điều trị Ung thư Hy vọng kết hợp tổ chức diễn ra tại Hà Nội mới đây đã tập trung giới thiệu và chia sẻ những tiến bộ trong tầm soát và điều trị ung thư đầu mặt cổ.
Phát biểu tại hội thảo, PGS. TS. Nguyễn Đại Bình - Phó giám đốc bệnh viện K cho biết: "Ở Việt Nam, ung thư vùng đầu cổ gặp khá nhiều, nổi bật ung thư vòm, hạ họng - thanh quản, lưỡi, khoang miệng. Người ở độ tuổi từ 49 - 53 thường mắc ung thư hạ họng - thanh quản, ung thư lưỡi. Tuy nhiên, ở Việt Nam, ung thư này có đặc điểm khác với phương Tây. Nguyên nhân chính là do thói quen sinh hoạt như uống rượu, hút thuốc, ăn trầu...
Tại Việt Nam, điều trị ung thư đầu cổ có chiến lược điều trị riêng biệt dựa vào xạ trị, hóa trị và thuốc chống vi rút. Tuy nhiên, điều trị chống vi rút ở giai đoạn 1 và 2 xạ trị đơn thuần có kết quả. Giai đoạn 3 cần kết hợp xạ và hóa trị. Ở giai đoạn 4 thì điều trị triệu chứng. Sau điều trị cần theo dõi tái phát, sống thêm, dùng thuốc và thực phẩm chống lão hóa, chống viêm nhiễm mạn tính ngừa tái phát".
Nói về phương pháp điều trị ung thư cùng đầu cổ giai đoạn muộn, Đại tá TS. Bs Nguyễn Kim Lưu cho biết: "Ung thư đầu và cổ đề cập đến một nhóm các bệnh ung thư: môi, khoang miệng (vòm họng, amydal, sàn miệng), khoang mũi (bên trong mũi), các xoang cạnh mũi , hạ họng - thanh quản …
Theo đó, xạ trị áp sát là phương pháp đưa nguồn phóng xạ trực tiếp vào mô đích, đây là kỹ thuật nhằm tập trung liều xạ cao vào khối u, giảm liều chiếu và hạn chế biến chứng mô lành (như tuyến nước bọt mang tai, xương). Kỹ thuật này thường ít khi sử dụng riêng lẽ, mà thường phối hợp với xạ trị ngoài. Nguồn xạ sử dụng có thể là xuất liều thấp như césium. Ngày nay nguồn xạ Iridium - 192 trong xạ trị suất liều cao đã được sử dụng phổ biến".
Triệu chứng lâm sàng không có gì nổi bật như: ngặt mũi, chảy nước mũi, đau đầu, ù tai, nuốt vướng, khạc ra máu, khàn tiếng, đau cổ và một số vết loét vùng đầu cổ, nổi hạch..., vì vậy để nhận biết được bệnh ung thư đòi hỏi người bệnh phải được khám bằng phương pháp nội soi, chụp City, siêu âm, MRI, đặc biệt giải phẫu bệnh là hết sức cần thiết.
Nếu phát hiện sớm có những dấu hiệu ung thư đầu cổ thì việc phẫu thuật cắt khối u phối hợp với xạ trị đem lại kết quả rất tốt, tỷ lệ sống trên 5 năm đạt trên 95%, một số trường hợp sau khi phẫu thuật có thể khỏi hoàn toàn. Ngược lại, nếu không được phát hiện kịp thời khi khối u đã lan ra các tổ chức lân cận hoặc di căn khi đó việc điều trị gặp rất nhiều khó khăn, tỷ lệ sống trên 5 năm là rất thấp.
Để phòng ngừa ung thư, mọi người cần hạn chế sử dụng các chất kích thích như: rượu, bia, thuốc lá... Thường xuyên vệ sinh răng miệng, mũi họng; Làm việc trong môi trường độc hại phải có dụng cụ bảo vệ; Khám điều trị sớm bệnh đầu mặt cổ; Để phát hiện bệnh sớm đòi hỏi mỗi người bệnh khi có các biểu hiện như: khàn tiếng, nuốt vướng nuốt khó, ngạt mũi, ù tai một bên hoặc hai bên, có khối u - hạch vùng cổ, vết loét vùng cổ nên đến ngay có sở y tế để được khám xét nghiệm phát hiện kịp thời.
Đặc biệt, đối với những người từ 50 tuổi trở lên có tiền sử hút thuốc lá, nghiện rượu lâu năm hoặc một số người làm việc trong môi trường độc hại khi có các triệu chứng trên cần đến cơ sở y tế khám đồng thời để bảo vệ sức khỏa cho bản thân mọi người cần được kiểm tra sức khỏe định kỳ 6 tháng một lần./.
Bệnh ung thư tuyến tiền liệt được điều trị như thế nào
Ung thư tuyến tiền liệt được xếp loại theo hệ thống Gleason, nó đánh giá các tế bào ung thư được tổ chức tốt hay kém như thế nào, dưới kính hiển vi.
Mức độ 1: Mô ung thư trông giống như mô tuyến tiền liệt bình thường.
Mức độ 2 đến 4: Một số tế bào giống như tế bào bình thường, một số khác thì không. Với các đặc trưng khác nhau giữa hai loại.
Mức độ 5: Các tế bào ung thư và các khối phát triển trông rất bất thường.
Vì các ung thư tuyến tiền liệt thường có các khu vực với các mức độ khác nhau, một mức độ được chỉ định cho hai khu vực mà ở đó nó tạo nên hầu hết ung thư. 2 mức độ này được thêm vào với nhau để tạo nên số điểm Gleason từ 2 đến 10.
Một điểm số Gleason dưới 6 cho thấy ung thư ít xâm lấn. Một điểm sô từ 7 trở lên được coi là xâm lấn và nhiều khả năng là ung thư sẽ phát triển và lây lan nhanh chóng.
BỆNH ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ NHƯ THẾ NÀO?
Trong một số trường hợp, bởi vì điều trị ung thư tuyến tiền liệt có thể mất nhiều năm để tiến triển, trong khi việc điều trị có những rủi ro của nó, các bác sĩ có thể chọn chỉ đơn giản là theo dõi các khối u chứ không phải điều trị ngay lập tức. Điều này là do việc điều trị phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giai đoạn của ung thư, các triệu chứng, tuổi tác và sức khỏe tổng quát của bệnh nhân.
HÓA TRỊ
Khi việc điều trị được quyết định tiến hành, nó có thể bao gồm phẫu thuật cắt bỏ tuyến tiền liệt nếu khối u vẫn ở tại chỗ. Cơ hội hồi phục hoàn toàn là cao trong những trường hợp như vậy nhưng có thể có các tác dụng phụ bao gồm tiểu tiện không tự chủ và chứng bất lực.
Đôi khi, hóa trị được sử dụng để làm giảm các triệu chứng của bệnh ung thư tuyến tiền liệt nếu các phương pháp điều trị khác cho thấy không hiệu quả.
XẠ TRỊ
Phương pháp này có thể được sử dụng để điều trị ung thư đã lây lan ra bên ngoài tuyến tiền liệt để chống lại ảnh hưởng của hooc-môn testosterone và làm chậm sự phát triển của khối u.
Bằng cách sử dụng các tia năng lượng cao để nhắm mục tiêu và tiêu diệt các tế bào ung thư. Điều này cũng có thể được sử dụng khi khối u vẫn ở tại chỗ.
Sự phát triển một kế hoạch điều trị bởi một đội ngũ đa ngành – các bác sĩ phẫu thuật, các nhà bệnh lý học, các bác sĩ X-quang, bác sĩ chuyên khoa ung thư y tế và bức xạ, các nhân viên xã hội và y tá chăm sóc để chẩn đoán, điều trị và quản lý các bệnh lý đã cho thấy sự cải thiện kết quả điều trị cho các bệnh nhân bị ung thư.
Ai có dấu hiệu ung thư tuyến tiền liệt và làm thế nào có thể ngăn chặn nó?
Tại Singapore, đàn ông Trung Quốc có nguy cơ tăng gấp đôi mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt so với người Mã Lai và Ấn Độ, theo một bài báo thông tin về ung thư tuyến tiền liệt phát hành năm 2011 bởi Phòng Đăng ký Các bệnh Quốc gia.
Tuổi tác là một yếu tố khác, với những người đàn ông ở độ tuổi 40 có nguy cơ chỉ là một trên 200.000, ở tuổi đầu 50 của họ, nó nhảy lên 12 trên 100.000, trong khi những người đàn ông ở tuổi 60 có nguy cơ 12 trong 10.000 được chẩn đoán mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt.
Những người bị béo phì, ăn quá nhiều thịt hoặc thực phẩm có nhiều chất béo động vật, những người đàn ông bắt đầu quan hệ tình dục từ sớm, có một tiền sử của các bệnh lây truyền qua đường tình dục hoặc có nhiều đối tác tình dục, cũng có nguy cơ tăng cao mắc ung thư tuyến tiền liệt. Ngoài ra trong các nhóm có nguy cơ cao là những người đàn ông có tiền sử gia đình bị ung thư tuyến tiền liệt.
Một lối sống lành mạnh, với mức tiêu thụ thịt ít hơn, do đó, là một bước tiến dài trong việc giúp ngăn ngừa các biểu hiện ung thư tuyến tiền liệt cũng như các bệnh ung thư khác.
Mức độ 1: Mô ung thư trông giống như mô tuyến tiền liệt bình thường.
Mức độ 2 đến 4: Một số tế bào giống như tế bào bình thường, một số khác thì không. Với các đặc trưng khác nhau giữa hai loại.
Mức độ 5: Các tế bào ung thư và các khối phát triển trông rất bất thường.
Vì các ung thư tuyến tiền liệt thường có các khu vực với các mức độ khác nhau, một mức độ được chỉ định cho hai khu vực mà ở đó nó tạo nên hầu hết ung thư. 2 mức độ này được thêm vào với nhau để tạo nên số điểm Gleason từ 2 đến 10.
Một điểm số Gleason dưới 6 cho thấy ung thư ít xâm lấn. Một điểm sô từ 7 trở lên được coi là xâm lấn và nhiều khả năng là ung thư sẽ phát triển và lây lan nhanh chóng.
BỆNH ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ NHƯ THẾ NÀO?
Trong một số trường hợp, bởi vì điều trị ung thư tuyến tiền liệt có thể mất nhiều năm để tiến triển, trong khi việc điều trị có những rủi ro của nó, các bác sĩ có thể chọn chỉ đơn giản là theo dõi các khối u chứ không phải điều trị ngay lập tức. Điều này là do việc điều trị phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giai đoạn của ung thư, các triệu chứng, tuổi tác và sức khỏe tổng quát của bệnh nhân.
HÓA TRỊ
Khi việc điều trị được quyết định tiến hành, nó có thể bao gồm phẫu thuật cắt bỏ tuyến tiền liệt nếu khối u vẫn ở tại chỗ. Cơ hội hồi phục hoàn toàn là cao trong những trường hợp như vậy nhưng có thể có các tác dụng phụ bao gồm tiểu tiện không tự chủ và chứng bất lực.
Đôi khi, hóa trị được sử dụng để làm giảm các triệu chứng của bệnh ung thư tuyến tiền liệt nếu các phương pháp điều trị khác cho thấy không hiệu quả.
XẠ TRỊ
Phương pháp này có thể được sử dụng để điều trị ung thư đã lây lan ra bên ngoài tuyến tiền liệt để chống lại ảnh hưởng của hooc-môn testosterone và làm chậm sự phát triển của khối u.
Bằng cách sử dụng các tia năng lượng cao để nhắm mục tiêu và tiêu diệt các tế bào ung thư. Điều này cũng có thể được sử dụng khi khối u vẫn ở tại chỗ.
Sự phát triển một kế hoạch điều trị bởi một đội ngũ đa ngành – các bác sĩ phẫu thuật, các nhà bệnh lý học, các bác sĩ X-quang, bác sĩ chuyên khoa ung thư y tế và bức xạ, các nhân viên xã hội và y tá chăm sóc để chẩn đoán, điều trị và quản lý các bệnh lý đã cho thấy sự cải thiện kết quả điều trị cho các bệnh nhân bị ung thư.
Ai có dấu hiệu ung thư tuyến tiền liệt và làm thế nào có thể ngăn chặn nó?
Tại Singapore, đàn ông Trung Quốc có nguy cơ tăng gấp đôi mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt so với người Mã Lai và Ấn Độ, theo một bài báo thông tin về ung thư tuyến tiền liệt phát hành năm 2011 bởi Phòng Đăng ký Các bệnh Quốc gia.
Tuổi tác là một yếu tố khác, với những người đàn ông ở độ tuổi 40 có nguy cơ chỉ là một trên 200.000, ở tuổi đầu 50 của họ, nó nhảy lên 12 trên 100.000, trong khi những người đàn ông ở tuổi 60 có nguy cơ 12 trong 10.000 được chẩn đoán mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt.
Những người bị béo phì, ăn quá nhiều thịt hoặc thực phẩm có nhiều chất béo động vật, những người đàn ông bắt đầu quan hệ tình dục từ sớm, có một tiền sử của các bệnh lây truyền qua đường tình dục hoặc có nhiều đối tác tình dục, cũng có nguy cơ tăng cao mắc ung thư tuyến tiền liệt. Ngoài ra trong các nhóm có nguy cơ cao là những người đàn ông có tiền sử gia đình bị ung thư tuyến tiền liệt.
Một lối sống lành mạnh, với mức tiêu thụ thịt ít hơn, do đó, là một bước tiến dài trong việc giúp ngăn ngừa các biểu hiện ung thư tuyến tiền liệt cũng như các bệnh ung thư khác.
Các vấn đề về ung thư tuyến tiền liệt
Ung thư tuyến tiền liệt là một khối u ác tính phát triển trong tuyến tiền liệt, một tuyến có kích cỡ quả óc chó dưới bàng quang ở nam giới sản xuất tinh dịch. Hầu hết các ung thư tuyến tiền liệt phát triển chậm nhưng có những trường hợp xâm lấn, và các khối u có thể lan ra các phần khác của cơ thể, đặc biệt là xương và các hạch bạch huyết.
Các triệu chứng ung thư tuyến tiền liệt trong nhiều trường hợp, nó không có triệu chứng, và người ta tin rằng có đến 80 phần trăm nam giới đến tuổi 80 sẽ bị ung thư tuyến tiền liệt. Vì hầu hết các trường hợp là chậm phát triển, trên thực tế nhiều người sẽ chết vì các đau ốm bệnh tật khác của tuổi già mà không bao giờ nhận ra rằng họ bị bệnh ung thư.
Các triệu chứng bộc phát trong các giai đoạn nặng hơn, tuy nhiên, chúng bao gồm giảm cân, đau vùng khung chậu, đau lưng hay hông và những khó khăn trong việc đi tiểu, chẳng hạn như đi tiểu đau buốt hoặc rát, không thể đi tiểu hoặc có máu trong nước tiểu.
CÁC XÉT NGHIỆM SAU KHI UNG THƯ ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN
Các chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt gồm các mức PSA – Một khi ung thư được chẩn đoán, các mức PSA có thể giúp xác định mức độ của bệnh. Nếu mức PSA thấp hơn 20ng/mL, có khả năng là ung thư chưa lây lan sang các vị trí xa hơn. Mức PSA hơn 40ng/mL là chỉ số khẳng định rằng ung thư đã lan đến các bộ phận khác của cơ thể.
Các xét nghiệm về di căn – Nếu sinh thiết cho thấy ung thư, các xét nghiệm khác sẽ được thực hiện để xác định ung thư đã lan rộng ra sao. Quét xương và chụp X-quang có thể chỉ ra liệu khối u đã xâm chiếm xương hay chưa. Chụp cắt lớp vi tính (CT) hoặc quét ảnh cộng hưởng từ (MRI) có thể xác định thêm nữa các vị trí của ung thư.
Các triệu chứng ung thư tuyến tiền liệt trong nhiều trường hợp, nó không có triệu chứng, và người ta tin rằng có đến 80 phần trăm nam giới đến tuổi 80 sẽ bị ung thư tuyến tiền liệt. Vì hầu hết các trường hợp là chậm phát triển, trên thực tế nhiều người sẽ chết vì các đau ốm bệnh tật khác của tuổi già mà không bao giờ nhận ra rằng họ bị bệnh ung thư.
Các triệu chứng bộc phát trong các giai đoạn nặng hơn, tuy nhiên, chúng bao gồm giảm cân, đau vùng khung chậu, đau lưng hay hông và những khó khăn trong việc đi tiểu, chẳng hạn như đi tiểu đau buốt hoặc rát, không thể đi tiểu hoặc có máu trong nước tiểu.
CÁC XÉT NGHIỆM SAU KHI UNG THƯ ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN
Các chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt gồm các mức PSA – Một khi ung thư được chẩn đoán, các mức PSA có thể giúp xác định mức độ của bệnh. Nếu mức PSA thấp hơn 20ng/mL, có khả năng là ung thư chưa lây lan sang các vị trí xa hơn. Mức PSA hơn 40ng/mL là chỉ số khẳng định rằng ung thư đã lan đến các bộ phận khác của cơ thể.
Các xét nghiệm về di căn – Nếu sinh thiết cho thấy ung thư, các xét nghiệm khác sẽ được thực hiện để xác định ung thư đã lan rộng ra sao. Quét xương và chụp X-quang có thể chỉ ra liệu khối u đã xâm chiếm xương hay chưa. Chụp cắt lớp vi tính (CT) hoặc quét ảnh cộng hưởng từ (MRI) có thể xác định thêm nữa các vị trí của ung thư.
Bệnh học ung thư thanh quản
Ung thư thanh quản là loại ung thư hay gặp ở Việt Nam, nếu trong phạm vi vùng tai mũi họng thì ung thư thanh quản đứng vào hàng thứ 4 sau ung thư vòm họng, ung thư mũi xoang và ung thư hạ họng.
Căn cứ thống kê của nhiều nước trên thế giới thì ung thư thanh quản chiếm khoảng 2% tổng số các loại ung thư thường gặp.
Nói đến bệnh ung thư thanh quản là chỉ khối u nằm trong lòng thanh quản bao gồm mặt dưới thanh nhiệt, băng thanh thất, thanh thất Morgagni, dây thanh và hạ thanh môn, còn các khối u khác vượt ngoài phạm vi các vị trí trên thuộc loại ung thư hạ họng.
Tuyệt đại đa số ung thư thanh quản là ung thư biểu mô, còn ung thư liên kết (sacoma) rất hiếm gặp chỉ chiếm khoảng 0,5% (Leroux Robert và Petit), vì vậy nội dung phần này chủ yếu đề cập đến ung thư biểu mô thanh quản.
Những yếu tố liên quan đến bệnh sinh
Cho đến nay vẫn chưa tìm ra được nguyên nhân chính gây bệnh, nhưng người ta đề cập tới các yếu tố có liên quan tới bệnh sinh:
Thuốc lá: nhiều người cho đó là một yếu tố quan trọng góp phần phát sinh ung thư thanh quản cũng như ung thư phổi.
Các yếu tố kích thích: của vi khí hậu, ảnh hưởng của nghề nghiệp (phải tiếp xúc với các chất khí, bụi bẩn, hoá chất...) hoặc viêm thanh quản mạn tính (tiền đề của một ung thư hoá).
Về giới tính: chủ yếu hay gặp ở nam giới, chiếm trên 90%, nhiều tác giả cho rằng phụ nữ ít bị bệnh này là do ít tiếp xúc với các yếu tố có liên quan đến gây bệnh so với nam giới.
Về tuổi: hay gặp ở độ tuổi từ: 50-70 tuổi (72%), từ 40-50 tuổi ít hơn (12%). Riêng với phụ nữ nếu bị bệnh này thì ở độ tuổi sớm hơn.
Với các thể viêm thanh quản mạn tính như tăng sản, bạch sản là thể dễ bị ung thư hoá, vì vậy các thể này còn được gọi là trạng thái tiền ung thư.
Các u lành tính của thanh quản cũng dễ bị ung thư hoá nhất là loại u nhú thanh quản ở người lớn chiếm một tỉ lể khá cao.
Giải phẫu bệnh lý
Đại thể
Thường hay gặp 3 hình thái sau:
Hình thái tăng sinh: bề ngoài giống như u nhú, một số trường hợp giống như một polyp có cuống.
Hình thái thâm nhiễm xuống phía sâu: bề ngoài niêm mạc có vẻ nguyên vẹn, đôi khi có hình như núm vú, niêm mạc vùng này bị đẩy phồng lên và di động bị hạn chế.
Hình thái loét thường bờ không đều, chạm vào dễ chảy máu. Nhưng hay gặp là thể hỗn hợp vừa tăng sinh vừa loét, hay vừa loét vừa thâm nhiễm.
Vi thể
Phần lớn ung thư thanh quản thuộc loại ung thư biểu mô lát, gai có cầu sừng chiếm 93% hoặc á sừng, sau đó là loại biểu mô tế bào đáy, loại trung gian và biểu mô tuyến.
Loại u ít biệt hoá thì hiếm gặp ở ung thư thanh quản. Về lâm sàng, loại này tiến triển nhanh nhưng lại nhạy cảm với tia xạ.
Lâm sàng
Vị trí và độ lan rộng của khối u và chẩn đoán ung thư thanh quản
Ung thư thượng thanh môn (tầng trên) hay tiền đình thanh quản.
Thường phát sinh cùng một lúc ở cả băng thanh thất và mặt dưới của thanh thiệt. Nó sẽ lan nhanh ra phía đối diện, nẹp phễu thanh thiệt và vùng sụn phễu bên bệnh, thường to phồng lên do bị u thâm nhiễm hoặc do phù nề. Ở giai đoạn đầu, đáy băng thanh thất và dây thanh còn bình thường. Mắt thường rất khó đánh giá chính xác độ thâm nhiễm vào phía sâu, vì vậy cần phải chụp cắt lớp thông thường hoặc tốt nhất là chụp C.T.Scan thì mới đánh giá được hố trước thanh thiệt.
Ung thư xuất phát từ thanh thất Morgagni thường là thể tăng sinh hay loét và thường bắt đầu từ phía đáy thanh thất hay thanh thiệt, nhưng nhìn chung thể loét lan rất nhanh vào các vùng lân cận, xuống dưới dây thanh và hạ thanh môn, lên trên băng thanh thất, ra ngoài sụn giáp có khi cả sụn phễu.
Ung thư thanh môn (dây thanh) là loại hay gặp nhất và thường thương tổn u còn giới hạn ở mặt trên hay bờ tự do dây thanh nếu ta phát hiện sớm.
Thường gặp thể tăng sinh, hiếm gặp thể thâm nhiễm hoặc loét.
Do triệu chứng khó phát âm xuất hiện sớm nên bệnh nhân thường đến khám sớm hơn các loại ung thư khác. Ung thư dây thanh tiến triển tương đối chậm, thường sau nhiều tháng, có khi một năm, bởi vì mô liên kết dưới niêm mạc của dây thanh thường dày đặc và màng lưới bạch mạch thì rất thưa thớt. Mô u lan dần dần từ mặt trên của niêm mạc xuống lớp sâu và sau đó mới bắt đầu phát triển nhanh xuống vùng hạ thanh môn và lên băng thanh thất.
Ung thư biểu mô của dây thanh thường khu trú ở một bên khá lâu rồi mới lan sang phía dây thanh đối diện.
Ung thư hạ thanh môn: ít gặp hơn so với hai loại trên nhưng khám, phát hiện cũng khó khăn hơn. Muốn xác định, phải soi thanh quản trực tiếp và chụp cắt lớp.
Loại này thường gặp là thể thâm nhiễm và thường ở phía dưới dây thanh, vì vậy được cánh sụn giáp làm vật chắn, nên u khó lan ra ngoài. U thường bắt đầu từ mặt dưới dây thanh và lan rộng xuống phía dưới niêm mạc, thâm nhiễm vào phía sâu, nhưng bờ tự do của dây thanh vẫn bình thường, vì vậy nếu sinh thiết soi qua gián tiếp, ít khi lấy được chính xác thương tổn u mà phải soi thanh quản trực tiếp, thậm chí có khi phải mở sụn giáp (thyrotomie).
Ung thư thường phát triển nhanh sang phía đối diện vượt qua mép trước thanh quản, sau đó lan xuống dưới sụn nhẫn. Có trường hợp u lan xuyên qua màng giáp nhẫn hoặc thâm nhiễm ra phía mặt sụn nhẫn. Thường gặp là u lan lên trên và ra sau khớp nhẫn phễu làm cho dây thanh bị cố định
Các triệu chứng lâm sàng của ung thư thanh quản
Tùy theo vị trí của ung thư khác nhau mà các triệu chứng lâm sàng cũng khác nhau, kể cả thời gian xuất hiện.
Triệu chứng cơ năng
Khàn tiếng ngày càng tăng và dẫn đến phát âm khó khăn, khàn đặc, mất tiếng.
Khó thở xuất hiện và tăng dần mặc dù triệu chứng này đã có từ lâu nhưng ở mức độ nhẹ, bệnh nhân thích ứng được, nhưng sau đó xuất hiện từng cơn khó thở, nguy kịch nhất là khi bị kích thích dẫn đến co thắt thanh quản, đôi khi kèm theo một bội nhiễm thứ phát (đợt viêm cấp do cảm cúm, phù nề do tia phóng xạ) thì khó thở nặng.
Ho: cũng là triệu chứng hay gặp nhưng kín đáo và mang tính chất kích thích, đôi khi có từng cơn ho kiểu co thắt.
Đau: chỉ xuất hiện khi khối u đã lan đến bờ trên của thanh quản, nhất là khi khối u đã bị loét. Đau thường lan lên tai và đau nhói lúc nuốt.
Đến giai đoạn muộn thì xuất hiện nuốt khó và sặc thức ăn, xuất tiết vào đường thở thì gây nên những cơn ho sặc sụa. Ở giai đoạn này, toàn trạng cũng bị ảnh hưởng.
Khám lâm sàng
Ung thư biểu mô dây thanh ở giai đoạn đầu thì u thường khu trú ở một bên dây thanh dưới hình thái một nụ sùi nhỏ hoặc thâm nhiễm nhẹ và hay gặp ở nửa trước dây thanh hoặc mép trước. Di động của dây thanh ở giai đoạn đầu nếu là thể tăng sinh thì chưa bị ảnh hưởng nhiều, nhưng nếu là thể thâm nhiễm thì di động bị hạn chế nhẹ. Sự đánh giá độ di động của dây thanh rất có ý nghĩa trong chỉ định điều trị.
U ở hạ thanh môn thì trước hết dây thanh di động bị hạn chế rồi lan ra quá đường giữa nên dễ nhầm với một u của thanh môn.
U ở thượng thanh môn thì ít khi phát hiện được ở giai đoạn sớm, băng thanh thất phù nề che lấp dây thanh cùng bên, niêm mạc dày cộm lên, chắc cứng, sau đó loét lan nhanh ra nẹp phễu thanh thiệt và xoang lê. Vì vậy u ở vùng này thường hay gặp ở giai đoạn muộn dưới hình thái thâm nhiễm hay tăng sinh, đôi khi kèm theo loét và lan vào hố trước thanh thiệt.
Nếu ung thư thanh quản không được điều trị, thường chỉ kéo dài được một năm hoặc 18 tháng, tử vong thường do ngạt thở cấp tính, biến chứng viêm phế quản phổi, suy kiệt hay chảy máu ồ ạt.
Di căn của ung thư thanh quản
Hạch cổ: tuỳ thuộc vào vị trí của thương tổn u, nên hạch cổ di căn cũng khác nhau vì nó phụ thuộc vào hệ thống bạch mạch của vùng đó. Hệ thống bạch mạch này thường có 2 mạng lưới phân giới khá rõ rệt: một mạng ở thượng thanh môn, một mạng ở hạ thanh môn, 2 mạng này được phân giới hạn bởi dây thanh. Mạng lưới thượng thanh môn bao gồm bạch mạch từ tiền đình thanh quản đổ về thân bạch mạch, chui qua phần bên của màng giáp móng và tận cùng của hạch cảnh trên. Mạng lưới hạ thanh môn cũng khá phong phú tuy ít dày đặc hơn phần thượng thanh môn. Còn vùng ranh giới tức dây thanh thì hệ bạch mạch rất bé, nằm rải rác dọc theo dây thanh, sau đó nối với mạng lưới của tiền đình thanh quản hay hạ thanh môn. Vì vậy ung thư vùng thượng thanh môn thường có hạch cổ di căn sớm, còn ung thư vùng hạ thanh môn thì di căn xuất hiện muộn hơn. Các hạch vùng này thường ở sâu, nên khám phát hiện lâm sàng khó hơn.
Di căn xa của ung thư thanh quản ít gặp hơn của ung thư hạ họng, theo nhận xét của nhiều tác giả, thường hay gặp là di căn vào phổi (4%) sau đó là cột sống, xương, gan, dạ dày, thực quản (1,2%). Cho đến nay, vẫn chưa xác định được những yếu tố gì có liên quan giữa u nguyên phát và di căn xa vào phổi, phế quản, vì vậy việc kiểm tra các thương tổn ở phổi trước khi điều trị ung thư thanh quản là hết sức cần thiết.
Ung thư thanh quản nếu được chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời thì có thể khỏi được với tỉ lệ ngày càng cao. Khác với ung thư thượng thanh môn và ung thư hạ họng, do các triệu chứng ban đầu kín đáo, không rầm rộ. Nên người bệnh dễ bỏ qua, không đi khám, còn ung thư thanh môn (dây thanh) thường xuất hiện sớm, các triệu chứng khó nói, khàn tiếng, nên người bệnh tự đi khám sớm hơn.
Những trường hợp có thương tổn một bên thanh quản, thương tổn còn rất khu trú, di động của dây thanh hơi khác thường thì phải kiểm tra theo dõi, làm các xét nghiệm cần thiết để loại trừ một ung thư.
Chẩn đoán phân biệt
Viêm thanh quản mạn tính phì đại, với một loét do tiếp xúc ở mỏm thanh hoặc một sa niêm mạc thanh thất.
Trong giai đoạn đầu, về lâm sàng cần phân biệt với một lao thanh quản (thể viêm dây thanh hay thể u lao). Thể thâm nhiễm ở mép sau rất giống một thương tổn lao, nhưng thương tổn lao rất ít xuất phát từ vị trí này.
Với một thương tổn lupus, thường hay gặp ở bờ thanh thiệt và tiền đình thanh quản nhưng có đặc điểm là cùng tồn tại nhiều hình thái trong một thời điểm (vừa có loét, vừa có thâm nhiễm, vừa có xơ sẹo) nên chẩn đoán phân biệt không khó khăn lắm.
Giang mai thời kỳ III, giai đoạn gôm chưa loét cũng dễ nhầm với loại ung thư thâm nhiễm ở vùng thanh thất hay băng thanh thất. Nếu ở giai đoạn đã loét thì cần phân biệt với u tiền đình thanh quản hay một ung thư hạ họng, thanh quản. Bờ loét không đều loét hình núi lửa, xung quanh rắn, màu đỏ như màu thịt bò, không đau lắm là đặc điểm của loét giang mai.
Dây thanh một bên không di động cần phân biệt với một liệt hồi qui hoặc một viêm khớp nhẫn phễu.
Với các u lành tính, cần phân biệt với một polyp, một u nhú vì các u này dễ ung thư hoá, nhất là người có tuổi, nam giới. Vì vậy, ở những trường hợp nay phải khám định kỳ, theo dõi và cần thiết thì phải làm sinh thiết nhiều lần.
Ở giai đoạn muộn, do các triệu chứng như mất tiếng, khó thở, nuốt khó, hạch cổ bị cố định... đã rõ ràng, nên chẩn đoán không gặp khó khăn lắm, nhất là khi soi thanh quản thì khối u đã khá rõ rệt, to, choán gần hết vùng thanh quản và có trường hợp đã lan ra cả mô lân cận.
Căn cứ thống kê của nhiều nước trên thế giới thì ung thư thanh quản chiếm khoảng 2% tổng số các loại ung thư thường gặp.
Nói đến bệnh ung thư thanh quản là chỉ khối u nằm trong lòng thanh quản bao gồm mặt dưới thanh nhiệt, băng thanh thất, thanh thất Morgagni, dây thanh và hạ thanh môn, còn các khối u khác vượt ngoài phạm vi các vị trí trên thuộc loại ung thư hạ họng.
Tuyệt đại đa số ung thư thanh quản là ung thư biểu mô, còn ung thư liên kết (sacoma) rất hiếm gặp chỉ chiếm khoảng 0,5% (Leroux Robert và Petit), vì vậy nội dung phần này chủ yếu đề cập đến ung thư biểu mô thanh quản.
Những yếu tố liên quan đến bệnh sinh
Cho đến nay vẫn chưa tìm ra được nguyên nhân chính gây bệnh, nhưng người ta đề cập tới các yếu tố có liên quan tới bệnh sinh:
Thuốc lá: nhiều người cho đó là một yếu tố quan trọng góp phần phát sinh ung thư thanh quản cũng như ung thư phổi.
Các yếu tố kích thích: của vi khí hậu, ảnh hưởng của nghề nghiệp (phải tiếp xúc với các chất khí, bụi bẩn, hoá chất...) hoặc viêm thanh quản mạn tính (tiền đề của một ung thư hoá).
Về giới tính: chủ yếu hay gặp ở nam giới, chiếm trên 90%, nhiều tác giả cho rằng phụ nữ ít bị bệnh này là do ít tiếp xúc với các yếu tố có liên quan đến gây bệnh so với nam giới.
Về tuổi: hay gặp ở độ tuổi từ: 50-70 tuổi (72%), từ 40-50 tuổi ít hơn (12%). Riêng với phụ nữ nếu bị bệnh này thì ở độ tuổi sớm hơn.
Với các thể viêm thanh quản mạn tính như tăng sản, bạch sản là thể dễ bị ung thư hoá, vì vậy các thể này còn được gọi là trạng thái tiền ung thư.
Các u lành tính của thanh quản cũng dễ bị ung thư hoá nhất là loại u nhú thanh quản ở người lớn chiếm một tỉ lể khá cao.
Giải phẫu bệnh lý
Đại thể
Thường hay gặp 3 hình thái sau:
Hình thái tăng sinh: bề ngoài giống như u nhú, một số trường hợp giống như một polyp có cuống.
Hình thái thâm nhiễm xuống phía sâu: bề ngoài niêm mạc có vẻ nguyên vẹn, đôi khi có hình như núm vú, niêm mạc vùng này bị đẩy phồng lên và di động bị hạn chế.
Hình thái loét thường bờ không đều, chạm vào dễ chảy máu. Nhưng hay gặp là thể hỗn hợp vừa tăng sinh vừa loét, hay vừa loét vừa thâm nhiễm.
Vi thể
Phần lớn ung thư thanh quản thuộc loại ung thư biểu mô lát, gai có cầu sừng chiếm 93% hoặc á sừng, sau đó là loại biểu mô tế bào đáy, loại trung gian và biểu mô tuyến.
Loại u ít biệt hoá thì hiếm gặp ở ung thư thanh quản. Về lâm sàng, loại này tiến triển nhanh nhưng lại nhạy cảm với tia xạ.
Lâm sàng
Vị trí và độ lan rộng của khối u và chẩn đoán ung thư thanh quản
Ung thư thượng thanh môn (tầng trên) hay tiền đình thanh quản.
Thường phát sinh cùng một lúc ở cả băng thanh thất và mặt dưới của thanh thiệt. Nó sẽ lan nhanh ra phía đối diện, nẹp phễu thanh thiệt và vùng sụn phễu bên bệnh, thường to phồng lên do bị u thâm nhiễm hoặc do phù nề. Ở giai đoạn đầu, đáy băng thanh thất và dây thanh còn bình thường. Mắt thường rất khó đánh giá chính xác độ thâm nhiễm vào phía sâu, vì vậy cần phải chụp cắt lớp thông thường hoặc tốt nhất là chụp C.T.Scan thì mới đánh giá được hố trước thanh thiệt.
Ung thư xuất phát từ thanh thất Morgagni thường là thể tăng sinh hay loét và thường bắt đầu từ phía đáy thanh thất hay thanh thiệt, nhưng nhìn chung thể loét lan rất nhanh vào các vùng lân cận, xuống dưới dây thanh và hạ thanh môn, lên trên băng thanh thất, ra ngoài sụn giáp có khi cả sụn phễu.
Ung thư thanh môn (dây thanh) là loại hay gặp nhất và thường thương tổn u còn giới hạn ở mặt trên hay bờ tự do dây thanh nếu ta phát hiện sớm.
Thường gặp thể tăng sinh, hiếm gặp thể thâm nhiễm hoặc loét.
Do triệu chứng khó phát âm xuất hiện sớm nên bệnh nhân thường đến khám sớm hơn các loại ung thư khác. Ung thư dây thanh tiến triển tương đối chậm, thường sau nhiều tháng, có khi một năm, bởi vì mô liên kết dưới niêm mạc của dây thanh thường dày đặc và màng lưới bạch mạch thì rất thưa thớt. Mô u lan dần dần từ mặt trên của niêm mạc xuống lớp sâu và sau đó mới bắt đầu phát triển nhanh xuống vùng hạ thanh môn và lên băng thanh thất.
Ung thư biểu mô của dây thanh thường khu trú ở một bên khá lâu rồi mới lan sang phía dây thanh đối diện.
Ung thư hạ thanh môn: ít gặp hơn so với hai loại trên nhưng khám, phát hiện cũng khó khăn hơn. Muốn xác định, phải soi thanh quản trực tiếp và chụp cắt lớp.
Loại này thường gặp là thể thâm nhiễm và thường ở phía dưới dây thanh, vì vậy được cánh sụn giáp làm vật chắn, nên u khó lan ra ngoài. U thường bắt đầu từ mặt dưới dây thanh và lan rộng xuống phía dưới niêm mạc, thâm nhiễm vào phía sâu, nhưng bờ tự do của dây thanh vẫn bình thường, vì vậy nếu sinh thiết soi qua gián tiếp, ít khi lấy được chính xác thương tổn u mà phải soi thanh quản trực tiếp, thậm chí có khi phải mở sụn giáp (thyrotomie).
Ung thư thường phát triển nhanh sang phía đối diện vượt qua mép trước thanh quản, sau đó lan xuống dưới sụn nhẫn. Có trường hợp u lan xuyên qua màng giáp nhẫn hoặc thâm nhiễm ra phía mặt sụn nhẫn. Thường gặp là u lan lên trên và ra sau khớp nhẫn phễu làm cho dây thanh bị cố định
Các triệu chứng lâm sàng của ung thư thanh quản
Tùy theo vị trí của ung thư khác nhau mà các triệu chứng lâm sàng cũng khác nhau, kể cả thời gian xuất hiện.
Triệu chứng cơ năng
Khàn tiếng ngày càng tăng và dẫn đến phát âm khó khăn, khàn đặc, mất tiếng.
Khó thở xuất hiện và tăng dần mặc dù triệu chứng này đã có từ lâu nhưng ở mức độ nhẹ, bệnh nhân thích ứng được, nhưng sau đó xuất hiện từng cơn khó thở, nguy kịch nhất là khi bị kích thích dẫn đến co thắt thanh quản, đôi khi kèm theo một bội nhiễm thứ phát (đợt viêm cấp do cảm cúm, phù nề do tia phóng xạ) thì khó thở nặng.
Ho: cũng là triệu chứng hay gặp nhưng kín đáo và mang tính chất kích thích, đôi khi có từng cơn ho kiểu co thắt.
Đau: chỉ xuất hiện khi khối u đã lan đến bờ trên của thanh quản, nhất là khi khối u đã bị loét. Đau thường lan lên tai và đau nhói lúc nuốt.
Đến giai đoạn muộn thì xuất hiện nuốt khó và sặc thức ăn, xuất tiết vào đường thở thì gây nên những cơn ho sặc sụa. Ở giai đoạn này, toàn trạng cũng bị ảnh hưởng.
Khám lâm sàng
Ung thư biểu mô dây thanh ở giai đoạn đầu thì u thường khu trú ở một bên dây thanh dưới hình thái một nụ sùi nhỏ hoặc thâm nhiễm nhẹ và hay gặp ở nửa trước dây thanh hoặc mép trước. Di động của dây thanh ở giai đoạn đầu nếu là thể tăng sinh thì chưa bị ảnh hưởng nhiều, nhưng nếu là thể thâm nhiễm thì di động bị hạn chế nhẹ. Sự đánh giá độ di động của dây thanh rất có ý nghĩa trong chỉ định điều trị.
U ở hạ thanh môn thì trước hết dây thanh di động bị hạn chế rồi lan ra quá đường giữa nên dễ nhầm với một u của thanh môn.
U ở thượng thanh môn thì ít khi phát hiện được ở giai đoạn sớm, băng thanh thất phù nề che lấp dây thanh cùng bên, niêm mạc dày cộm lên, chắc cứng, sau đó loét lan nhanh ra nẹp phễu thanh thiệt và xoang lê. Vì vậy u ở vùng này thường hay gặp ở giai đoạn muộn dưới hình thái thâm nhiễm hay tăng sinh, đôi khi kèm theo loét và lan vào hố trước thanh thiệt.
Nếu ung thư thanh quản không được điều trị, thường chỉ kéo dài được một năm hoặc 18 tháng, tử vong thường do ngạt thở cấp tính, biến chứng viêm phế quản phổi, suy kiệt hay chảy máu ồ ạt.
Di căn của ung thư thanh quản
Hạch cổ: tuỳ thuộc vào vị trí của thương tổn u, nên hạch cổ di căn cũng khác nhau vì nó phụ thuộc vào hệ thống bạch mạch của vùng đó. Hệ thống bạch mạch này thường có 2 mạng lưới phân giới khá rõ rệt: một mạng ở thượng thanh môn, một mạng ở hạ thanh môn, 2 mạng này được phân giới hạn bởi dây thanh. Mạng lưới thượng thanh môn bao gồm bạch mạch từ tiền đình thanh quản đổ về thân bạch mạch, chui qua phần bên của màng giáp móng và tận cùng của hạch cảnh trên. Mạng lưới hạ thanh môn cũng khá phong phú tuy ít dày đặc hơn phần thượng thanh môn. Còn vùng ranh giới tức dây thanh thì hệ bạch mạch rất bé, nằm rải rác dọc theo dây thanh, sau đó nối với mạng lưới của tiền đình thanh quản hay hạ thanh môn. Vì vậy ung thư vùng thượng thanh môn thường có hạch cổ di căn sớm, còn ung thư vùng hạ thanh môn thì di căn xuất hiện muộn hơn. Các hạch vùng này thường ở sâu, nên khám phát hiện lâm sàng khó hơn.
Di căn xa của ung thư thanh quản ít gặp hơn của ung thư hạ họng, theo nhận xét của nhiều tác giả, thường hay gặp là di căn vào phổi (4%) sau đó là cột sống, xương, gan, dạ dày, thực quản (1,2%). Cho đến nay, vẫn chưa xác định được những yếu tố gì có liên quan giữa u nguyên phát và di căn xa vào phổi, phế quản, vì vậy việc kiểm tra các thương tổn ở phổi trước khi điều trị ung thư thanh quản là hết sức cần thiết.
Ung thư thanh quản nếu được chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời thì có thể khỏi được với tỉ lệ ngày càng cao. Khác với ung thư thượng thanh môn và ung thư hạ họng, do các triệu chứng ban đầu kín đáo, không rầm rộ. Nên người bệnh dễ bỏ qua, không đi khám, còn ung thư thanh môn (dây thanh) thường xuất hiện sớm, các triệu chứng khó nói, khàn tiếng, nên người bệnh tự đi khám sớm hơn.
Những trường hợp có thương tổn một bên thanh quản, thương tổn còn rất khu trú, di động của dây thanh hơi khác thường thì phải kiểm tra theo dõi, làm các xét nghiệm cần thiết để loại trừ một ung thư.
Chẩn đoán phân biệt
Viêm thanh quản mạn tính phì đại, với một loét do tiếp xúc ở mỏm thanh hoặc một sa niêm mạc thanh thất.
Trong giai đoạn đầu, về lâm sàng cần phân biệt với một lao thanh quản (thể viêm dây thanh hay thể u lao). Thể thâm nhiễm ở mép sau rất giống một thương tổn lao, nhưng thương tổn lao rất ít xuất phát từ vị trí này.
Với một thương tổn lupus, thường hay gặp ở bờ thanh thiệt và tiền đình thanh quản nhưng có đặc điểm là cùng tồn tại nhiều hình thái trong một thời điểm (vừa có loét, vừa có thâm nhiễm, vừa có xơ sẹo) nên chẩn đoán phân biệt không khó khăn lắm.
Giang mai thời kỳ III, giai đoạn gôm chưa loét cũng dễ nhầm với loại ung thư thâm nhiễm ở vùng thanh thất hay băng thanh thất. Nếu ở giai đoạn đã loét thì cần phân biệt với u tiền đình thanh quản hay một ung thư hạ họng, thanh quản. Bờ loét không đều loét hình núi lửa, xung quanh rắn, màu đỏ như màu thịt bò, không đau lắm là đặc điểm của loét giang mai.
Dây thanh một bên không di động cần phân biệt với một liệt hồi qui hoặc một viêm khớp nhẫn phễu.
Với các u lành tính, cần phân biệt với một polyp, một u nhú vì các u này dễ ung thư hoá, nhất là người có tuổi, nam giới. Vì vậy, ở những trường hợp nay phải khám định kỳ, theo dõi và cần thiết thì phải làm sinh thiết nhiều lần.
Ở giai đoạn muộn, do các triệu chứng như mất tiếng, khó thở, nuốt khó, hạch cổ bị cố định... đã rõ ràng, nên chẩn đoán không gặp khó khăn lắm, nhất là khi soi thanh quản thì khối u đã khá rõ rệt, to, choán gần hết vùng thanh quản và có trường hợp đã lan ra cả mô lân cận.
Những triệu chứng báo hiệu bệnh ung thư dạ dày
Phần lớn bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn sớm không được phát hiện kịp thời do những dấu hiệu ung thư dạ dày thời kỳ đầu không rõ rệt. Vậy làm thế nào để phát hiện sớm ung thư dạ dày?
Trên thế giới, mỗi năm có hơn 800.000 người tử vong do ung thư dạ dày và Việt Nam nằm trong số những nước có tần suất mắc ung thư dạ dày cao. Việc nhận biết những dấu hiệu ung thư dạ dày để phòng tránh kịp thời căn bệnh nguy hiểm này là điều vô cùng cần thiết.
Phần lớn bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn sớm không được phát hiện kịp thời do những dấu hiệu ung thư dạ dày thời kỳ đầu không rõ rệt. Vậy làm thế nào để phát hiện sớm ung thư dạ dày?
Dấu hiệu ung thư dạ dày giai đoạn đầu: Chướng bụng đầy hơi. Triệu chứng này thường xuất hiện trong suốt quá trình mắc bệnh của bệnh nhân ung thư dạ dày. Trên 70% số bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn đầu có biểu hiện chướng bụng, đầy hơi rõ rệt. Tình trạng này thường xảy ra trong những thời điểm yên tĩnh. Khi hoạt động thể thao, phân tán tư tưởng, triệu chứng này mất đi nhưng vẫn khiến hiệu quả điều tiết ăn uống của bệnh nhân suy giảm.
Những triệu chứng ung thư dạ dày báo hiệu nguy cơ mắc ung thư dạ dày
Ợ chua, nóng ruột là biểu hiện của đau dạ dày (Ảnh minh họa)
Ợ chua, nóng ruột (nóng dạ dày)
Các bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn này thường có cảm giác khó chịu, nhâm nhẩm đau ở dạ dày, uống thuốc thấy giảm. Một số trường hợp sau khi ăn có cảm giác khó chịu, ợ nóng, khi đi khám có thể bị chẩn đoán nhầm sang viêm dạ dày. Sút cân, mệt mỏi.
Hiện tượng này xuất hiện do bệnh nhân có biểu hiện chán ăn lâu ngày. Thực tế chán ăn mệt mỏi cũng là dấu hiệu ung thư dạ dày dễ nhận biết của những người mắc ung thư dạ dày. Nhưng do không có cơn đau dữ dội nên nhiều bệnh nhân đã chủ quan không đi khám. Những bệnh nhân mắc bệnh thời gian dài, có thể xuất hiện hiện tượng xuất huyết đường tiêu hóa, biểu hiện như nôn ra máu, đại tiện phân đen, hoặc xét nghiệm tìm thấy hồng cầu trong máu.
Dấu hiệu ung thư dạ dày giai đoạn muộn: Đau bụng dữ dội, thời gian đau lâu, uống thuốc không đỡ.Những biểu hiện dưới đây của ung thư dạ dày giai đoạn muộn thực chất là những biểu hiện của ung thư dạ dày giai đoạn sớm nhưng biểu hiện nặng hơn.
Những triệu chứng báo hiệu nguy cơ mắc ung thư dạ dày
Bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn cuối khả năng di căn cao. Thông thường là trực tiếp xâm lấn sang các tạng xung quanh như tụy, gan, đại tràng ngang … hoặc cũng có thể di căn hạch ổ bụng, hạch cạnh dạ dày, di căn xa...Bên cạnh đó, khối u dạ dày có thể dẫn tới các biến chứng thủng dạ dày, xuất huyết, hoại tử, tắc .v.v…
Bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn cuối còn có biểu hiện đau thượng vị, chán ăn, sút cân, mệt mỏi, buồn nôn, nôn ói, đại tiện ra máu hoặc phân đen v.v…Nuốt nghẹn, nôn. Ngoài ra, cũng có một số dấu hiệu đau dạ dày khác như hiện tượng nuốt nghẹn, nôn. Ung thư dạ dày có thể dẫn tới thủng dạ dày cấp, đau bụng, viêm phúc mạc. Một số trường hợp lại có biểu hiện tiêu chảy, táo bón, đau bụng dưới, sốt…Ung thư dạ dày giai đoạn cuối triệu chứng rất rõ rệt, vì vậy khiến bệnh nhân rất đau đớn. Việc phát hiện sớm, chẩn đoán sớm, điều trị sớm sẽ nâng cao hiệu quả điều trị.
Trên thế giới, mỗi năm có hơn 800.000 người tử vong do ung thư dạ dày và Việt Nam nằm trong số những nước có tần suất mắc ung thư dạ dày cao. Việc nhận biết những dấu hiệu ung thư dạ dày để phòng tránh kịp thời căn bệnh nguy hiểm này là điều vô cùng cần thiết.
Phần lớn bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn sớm không được phát hiện kịp thời do những dấu hiệu ung thư dạ dày thời kỳ đầu không rõ rệt. Vậy làm thế nào để phát hiện sớm ung thư dạ dày?
Dấu hiệu ung thư dạ dày giai đoạn đầu: Chướng bụng đầy hơi. Triệu chứng này thường xuất hiện trong suốt quá trình mắc bệnh của bệnh nhân ung thư dạ dày. Trên 70% số bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn đầu có biểu hiện chướng bụng, đầy hơi rõ rệt. Tình trạng này thường xảy ra trong những thời điểm yên tĩnh. Khi hoạt động thể thao, phân tán tư tưởng, triệu chứng này mất đi nhưng vẫn khiến hiệu quả điều tiết ăn uống của bệnh nhân suy giảm.
Những triệu chứng ung thư dạ dày báo hiệu nguy cơ mắc ung thư dạ dày
Ợ chua, nóng ruột là biểu hiện của đau dạ dày (Ảnh minh họa)
Ợ chua, nóng ruột (nóng dạ dày)
Các bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn này thường có cảm giác khó chịu, nhâm nhẩm đau ở dạ dày, uống thuốc thấy giảm. Một số trường hợp sau khi ăn có cảm giác khó chịu, ợ nóng, khi đi khám có thể bị chẩn đoán nhầm sang viêm dạ dày. Sút cân, mệt mỏi.
Hiện tượng này xuất hiện do bệnh nhân có biểu hiện chán ăn lâu ngày. Thực tế chán ăn mệt mỏi cũng là dấu hiệu ung thư dạ dày dễ nhận biết của những người mắc ung thư dạ dày. Nhưng do không có cơn đau dữ dội nên nhiều bệnh nhân đã chủ quan không đi khám. Những bệnh nhân mắc bệnh thời gian dài, có thể xuất hiện hiện tượng xuất huyết đường tiêu hóa, biểu hiện như nôn ra máu, đại tiện phân đen, hoặc xét nghiệm tìm thấy hồng cầu trong máu.
Dấu hiệu ung thư dạ dày giai đoạn muộn: Đau bụng dữ dội, thời gian đau lâu, uống thuốc không đỡ.Những biểu hiện dưới đây của ung thư dạ dày giai đoạn muộn thực chất là những biểu hiện của ung thư dạ dày giai đoạn sớm nhưng biểu hiện nặng hơn.
Những triệu chứng báo hiệu nguy cơ mắc ung thư dạ dày
Bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn cuối khả năng di căn cao. Thông thường là trực tiếp xâm lấn sang các tạng xung quanh như tụy, gan, đại tràng ngang … hoặc cũng có thể di căn hạch ổ bụng, hạch cạnh dạ dày, di căn xa...Bên cạnh đó, khối u dạ dày có thể dẫn tới các biến chứng thủng dạ dày, xuất huyết, hoại tử, tắc .v.v…
Bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn cuối còn có biểu hiện đau thượng vị, chán ăn, sút cân, mệt mỏi, buồn nôn, nôn ói, đại tiện ra máu hoặc phân đen v.v…Nuốt nghẹn, nôn. Ngoài ra, cũng có một số dấu hiệu đau dạ dày khác như hiện tượng nuốt nghẹn, nôn. Ung thư dạ dày có thể dẫn tới thủng dạ dày cấp, đau bụng, viêm phúc mạc. Một số trường hợp lại có biểu hiện tiêu chảy, táo bón, đau bụng dưới, sốt…Ung thư dạ dày giai đoạn cuối triệu chứng rất rõ rệt, vì vậy khiến bệnh nhân rất đau đớn. Việc phát hiện sớm, chẩn đoán sớm, điều trị sớm sẽ nâng cao hiệu quả điều trị.
Ung thư phổi là gì
Ung thư phổi là bệnh lý ác tính xuất phát tại phổi (ung thư phổi tiên phát) hoặc từ nơi khác di căn đến phổi (ung thư phổi thứ phát), bệnh rất thường gặp, đứng hàng thứ ba trong các bệnh phổi mạn tính và hàng thứ năm trong ung thư các phủ tạng Ung thư phổi là bệnh lý ác tính xuất phát tại phổi (ung thư phổi tiên phát) hoặc từ nơi khác di căn đến phổi (ung thư phổi thứ phát), bệnh rất thường gặp, đứng hàng thứ ba trong các bệnh phổi mạn tính và hàng thứ năm trong ung thư các phủ tạng. Trong vòng 40 năm trở lại đây, ung thư phổi tăng lên rõ rệt. Ở Việt Nam ung thư phổi rất thường gặp, tại khoa Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai thấy
– 1969 – 1972: 89 trường hợp.
– 1974 – 1978: 186 trường hợp.
– 1981 – 1985: 285 trường hợp.
– 1996-2000: 639/ 3606 trường hợp.
Biểu hiện ung thư phổi
Bệnh gặp nhiều ở nam giới. Hút thuốc lá, thuốc là được xem là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh.
Triệu chứng ban đầu rất kín đáo nên chẩn đoán rất khó khăn. Các triệu chứng thường gặp bao gồm: ho khan, hoặc ho máu, đau ngực, gầy sút cân… Tuy nhiên, nhiều trường hợp bệnh nhân nhập viện vì các triệu chứng của nhiễm trùng đường hô hấp như: sốt, ho, khạc đờm mủ, khó thở, nghe phổi thấy ran ẩm, nổ… các trường hợp này thường được điều trị kháng sinh, tuy nhiên, diễn biến bệnh thường chậm, hoặc sau điều trị vẫn còn tổn thương hình khối trên phim chụp X quang phổi.
Điều trị ung thư phổi phụ thuộc nhiều vào giai đoạn, ở giai đoạn sớm, khi bệnh chưa có di căn, phẫu thuật là lựa chọn hàng đầu khi thể trạng bệnh nhân tốt. Các trường hợp bệnh đã có di căn hoặc u phổi lớn có xâm lấn ra thành ngực, bệnh nhân thường được chỉ định điều trị hóa chất hoặc xạ trị.
– 1969 – 1972: 89 trường hợp.
– 1974 – 1978: 186 trường hợp.
– 1981 – 1985: 285 trường hợp.
– 1996-2000: 639/ 3606 trường hợp.
Biểu hiện ung thư phổi
Bệnh gặp nhiều ở nam giới. Hút thuốc lá, thuốc là được xem là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh.
Triệu chứng ban đầu rất kín đáo nên chẩn đoán rất khó khăn. Các triệu chứng thường gặp bao gồm: ho khan, hoặc ho máu, đau ngực, gầy sút cân… Tuy nhiên, nhiều trường hợp bệnh nhân nhập viện vì các triệu chứng của nhiễm trùng đường hô hấp như: sốt, ho, khạc đờm mủ, khó thở, nghe phổi thấy ran ẩm, nổ… các trường hợp này thường được điều trị kháng sinh, tuy nhiên, diễn biến bệnh thường chậm, hoặc sau điều trị vẫn còn tổn thương hình khối trên phim chụp X quang phổi.
Điều trị ung thư phổi phụ thuộc nhiều vào giai đoạn, ở giai đoạn sớm, khi bệnh chưa có di căn, phẫu thuật là lựa chọn hàng đầu khi thể trạng bệnh nhân tốt. Các trường hợp bệnh đã có di căn hoặc u phổi lớn có xâm lấn ra thành ngực, bệnh nhân thường được chỉ định điều trị hóa chất hoặc xạ trị.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)



