Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2015

Điều phụ nữ cần biết về ung thư buồng trứng

 Ung thư buồng trứng khá hiếm, nhưng lại gây chết người. Trung bình cứ 72 phụ nữ sẽ có 1 người mắc căn bệnh này.


Trung bình 43,7% số người mắc bệnh có thể sống thêm 5 năm tùy thuộc vào giai đoạn được chẩn đoán. Chỉ có gần 27% người được chẩn đoán khi bệnh đã di căn có thể sống tới 5 năm.



Theo Viện Ung thư quốc gia Mỹ, yếu tố nguy cơ gây bệnh lớn nhất là do tiểu sử bệnh gia đình. Nguy cơ mắc bệnh sẽ tăng 3 lần nếu trong gia đình có ít nhất một người thân (mẹ, chị em gái, con gái) bị bệnh này. Đó là do trong những gia đình này có mẫu gen BRCA1 và BRCA2, làm tăng nguy cơ mắc bệnh lên từ 15 tới 40%. Những phụ nữ này thường mắc bệnh trước tuổi 50. Trong khi đó, phụ nữ không có tiểu sử bệnh gia đình chỉ có 1,4% nguy cơ mắc bệnh. Tuy nhiên, có từ 85% tới 90% ca bệnh không có liên hệ gene rõ ràng.

Thuốc liên quan tới thụ thai, các liệu pháp thay thế hormone sau khi mãn kinh và béo phì cũng có liên hệ với tăng nguy cơ mắc bệnh. Nhìn chung, nguy cơ này tăng theo độ tuổi.

Dường như nguy cơ mắc bệnh tăng lên song song với số lần rụng trứng của mỗi phụ nữ. Theo tiến sĩ Ronny Drapkin, giáo sư trợ giảng khoa bệnh học của trường y Havard, trong kỳ kinh, trứng được giải phóng khỏi buồng trứng vào ống dẫn trứng, và các nghiên cứu gần đây gợi ý rằng chất lỏng được giải phóng trong buồng trứng cùng trứng trong kỳ kinh chứa yếu tố phát triển và các phân tử khác làm tổn hại tới AND của các tế bào ống dẫn trứng gần đó.

Thêm vào đó, bằng chứng cho thấy căn bệnh ung thư buồng trứng gây tử vong nhiều nhất thật ra bắt đầu khi tế bào ở cuối ống dẫn trứng - không phải các tế bào trong buồng trứng - bị ung thư. Các kết quả này giải thích rằng bất kỳ điều gì làm giảm số lần phụ nữ rụng trứng cũng giúp giảm nguy cơ ung thư buồng trứng. Drapkin cho biết, cho con bú và thuốc tránh thai đều giúp tạm dừng quá trình rụng trứng và các nghiên cứu đã liên hệ những yếu tố này với việc giảm nguy cơ mắc bệnh.

Triệu chứng ung thư buồng trứng

Theo Trung tâm Y tế Mayo, một nguyên nhân khiến ung thư buồng trứng khó phát hiện ở giai đoạn đầu là nó có các triệu chứng tương tự căn bệnh khác, như các vấn đề về tiêu hóa.

Một số triệu chứng bao gồm:

- Tức bụng đầy hơi.

- Buồn nôn, đầy bụng hay khó tiêu liên tục.

- Các thay đổi trong thói quen đi vệ sinh như táo bón hay tiểu tiện thường xuyên.

- Ăn không ngon hay chóng no.

- Tăng số đo vòng eo.

- Chóng mệt.

Những triệu chứng trên kéo dài và ngày một tăng. Do các triệu chứng đó thường gặp, các nhà nghiên cứu đã xem xét thêm dấu hiệu khác để phát hiện bệnh, như: tần suất, mức độ và khoảng thời gian các triệu chứng điển hình liên hệ với bệnh để so với các bệnh tương tự. Trong một nghiên cứu công bố năm 2004, các nhà nghiên cứu so sánh những phụ nữ đi khám và được chẩn đoán mắc bệnh so với những người không bị mắc bệnh.

Họ nhận thấy sự kết hợp các yếu tố đau bụng, đau xương chậu, đầy hơi, táo bón và tăng vòng 2 là phổ biến hơn ở những phụ nữ bị bệnh.

Không có bằng chứng cho thấy kiểm tra sàng lọc giúp phát hiện ung thư buồng trứng. Các kiểm tra xương chậu có thể bao gồm kiểm tra buồng trứng, nhưng thường vẫn không giúp phát hiện khối u cho tới khi bệnh đã phát triển to.

Siêu âm qua âm đạo và xét nghiệm máu đo nồng độ phân tử CA-125 cũng không đủ chính xác để giúp phát hiện bệnh.

Ung thư thận và giai đoạn phát triển

ĐIỀU TRỊ UNG THƯ THẬN


Ung thư thận nếu như phát hiện bệnh sớm và kịp thời điều trị, bệnh tình sẽ được khống chế một cách có hiệu quả. Hiện nay, có rất nhiều phương pháp điều trị ung thư thận. Ngoài phẫu thuật cắt bỏ và hóa xạ trị truyền thống ra, vẫn còn có rất nhiều kỹ thuật điều trị xâm lấn tối thiểu tiên tiến như dao đông lạnh, đốt cao tần, miễn dịch sinh học… Đem lại hy vọng cho bệnh nhân ung thư thận.


PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ UNG THƯ THẬN TRUYỀN THỐNG

Điều trị bệnh ung thư thận ban đầu ta phát hiện được những dấu hiệu ung thư thận để có thể điều trị một cách chính xác:
 1.Phẫu thuật: Phẫu thuật ung thư thận có nhiều phương thức khác nhau như phẫu thuật cắt bỏ thận điều trị tận gốc, phẫu thuật cắt bỏ một phần thận... Nếu như điều kiện cho phép, phẫu thuật cắt bỏ thận điều trị tận gốc là một trong những liệu pháp điều trị tốt nhất. Do đó, khi nghi ngờ có các triệu chứng của ung thư thận, cần phải đến ngay bệnh viện để tiến hành chẩn đoán ung thư thận, phát hiện sớm, điều trị sớm.
2. Hóa trị: Sử dụng hóa chất để tiêu diệt tế bào ung thư, ức chế sự tăng trường và sinh sản của tế bào ung thư. Nhưng khi hóa trị sẽ khiến cho sức đề kháng của cơ thể giảm sút, gây tổn hại đến các tế bào bình thường. Do đó rất nhiều bệnh nhân ung thư từ chối hóa trị.
3.Xạ trị: Xạ trị là phương pháp được áp dụng rộng rãi để hỗ trợ hiệu quả điều trị trước khi phẫu thuật hoặc sau khi phẫu thuật ung thư thận. Và có tác dụng giảm đau đối với ung thư thận đã di căn. Nhưng do tác dụng phụ của xạ trị khá nhiều, đau đớn, không ít các bệnh nhân ung thư thận đã từ chối xạ trị.


KỸ THUẬT ĐIỀU TRỊ XÂM LẤN TỐI THIỂU TRONG UNG THƯ THẬN
1. Dao đông lạnh: Dao đông lạnh là một phương pháp có tốc độ phát triển tương đối nhanh và thành thục trong những năm gần đây. Dưới sự chỉ dẫn của các kết quả siêu âm và CT, đưa một cây kim nhỏ vào trong khối u, phun khí Argon, làm cho nhiệt độ bên trong khối u nhanh chóng hạ xuống, sau đó phun khí Heli, khiến quả cầu băng bị rã đông. Tiếp tục thực hiện lại chu trình từ đông lạnh -> rã đông, làm ít nhất 2 lần chu trình này. Nóng lạnh tuần hoàn, có tác dụng tiêu diệt các tế bào khối u. Phương pháp dao đông lạnh là liệu pháp vật lý, ít tác dụng phụ.
2. Đốt cao tần: Đốt cao tần là một phương pháp khá tốt trong điều trị ung thư thận. Dưới sự chỉ dẫn của hình ảnh, kích thích qua da, trực tiếp tiến hành đốt cao tần ngay bên trong khối u ở thận, nhanh chóng tiêu diệt tế bào ung thư.
3. Miễn dịch sinh học: Miễn dịch sinh học là phương pháp thích hợp để điều trị ung thư thận giai đoạn đầu, giữa và cuối. Giảm thiểu rõ rệt tỷ lệ tái phát, nâng cao chất lượng cuộc sống, kéo dài tuổi thọ.
4. Điều trị Đông Y: Điều trị Đông Y có tác dụng trong việc điều tiết cân bằng, phòng chống ung thư. Thuốc Đông Y có thể dùng xuyên suốt quá trình điều trị ung thư thận, kết hợp với các phương pháp điều trị khác, có hiệu quả trong việc làm giảm độc tố, còn có thể cải thiện tình trạng khó chịu, nâng cao sức đề kháng của bệnh nhân, làm giảm tác dụng phụ của hóa trị. Từ đó nâng cao hiệu quả điều trị.

Ung thư dương vật- nguyên nhân và triệu chứng

Ung thư dương vật là bệnh hiếm gặp ở nam giới, nhưng hậu quả của nó để thật quá ghê gớm. Rất nhiều người khi nhắc tới ung thư là họ nghĩ ngay tới việc ung thư là chuẩn bị tới cái chết không thuốc gì chữa khỏi, nhưng sự thật là nếu có hiểu biết thì việc phát hiện sớm bệnh có thể giúp việc điều trị bệnh hiệu quả và có thể giữ được dương vật

Hẹp bao quy đầu- phát hiện và điều trị
Dương vật cong vẹo bất thường

Tổng quan

Ung thư dương vật là gì?

- Ung thư dương vật là ung thư của bộ phận dương vật nam giới, xuất phát từ lớp biểu mô vảy không sừng hóa của niêm mạc qui đầu và bao quy đầu.

- Ung thư này có độ ác tính khác nhau, biểu hiện lâm sàng phong phú, kết quả điều trị và tiên lượng phụ thuộc vào giai đoạn bệnh. Ung thư xuất phát từ tế bào liên kết (sacomma) của dương vật rất hiếm gặp.

Độ tuổi thường mắc bệnh

Ung thư dương vật chủ yếu phát sinh ở nam giới trung , cao tuổi, độ tuổi thường là 60, tuổi tác càng cao thì càng dễ mắc bệnh, tỉ lệ mắc cao nhất là 70 tuổi. Tuy nhiên ung thư dương vật cũng có thể phát bệnh ở người trẻ tuổi.




Nguyên nhân ung thư dương vật

- Do hẹp bao quy: Người bệnh hẹp bao quy đầu thường gặp khó khăn trong việc vệ sinh quy đầu khiến các chất dịch và chất cặn màu trắng tích trữ trong đó dễ khiến mắc bệnh ung thư dương vật.

- Bựa sinh dục, tình trạng hình thành lớp chất nhầy khá dày, xảy ra do dương vật không được vệ sinh sạch sẽ cũng được xem là một trong những nguyên nhân gây ung thư dương vật.

- Do mắc các bệnh như viêm dương vật (đặc biệt là vùng quy đầu và rãnh quy đầu), có các khối u lành tính ở dương vật (như u mạch máu), các bệnh lây truyền qua đường tình dục (như bệnh sùi mào gà, giang mai …) cũng là những yếu tố có thể dẫn đến ung thư dương vật.

Triệu chứng ung thư dương vật có những biểu hiện ra sao?

Giai đoạn 1: Khi mới bắt đầu mắc bệnh biểu hiện sẽ là:

- Thay đổi màu da ở bộ phận dương vật.

- Có cảm giác đau nhói hay âm ỉ ở dương vật, nhất là sau khi dương vật cương cứng hoặc bị va chạm.

- Bao qui đầu không thể di chuyển lên được,có u cục hoặc cảm giác có nốt, toàn bộ cảm giác đau; sẩn, nổi mụn cóc, loét giống như hình hoa lơ, sau đó sẽ là loét rộng hơn, vùng rìa phát triển không đồng nhất, sẽ có những cơn đau nhói, và cảm giác đau nóng rát, có tiết dịch mùi hôi.

- Rỉ máu ở đầu dương vật, nhất là sau khi giao hợp.

Giai đoạn 2: Bệnh ung thư sẽ tấn công vào các tuyến và tế bào bên trong, với biểu hiện:




- Các nốt to lên, loét cũng to lên, sâu thêm, xuất hiện bao qui đầu mỏng căng, sáng hơn.

- Có u hoặc các nốt loét xung quanh bao qui đầu. Dần dần các u sẽ làm vỡ các phần da hoặc hoại tử trên một nền cứng và xuất hiện nhìn giống như các bông hoa lơ, khi nắn có nước nhờn, đục, có tiết dịch mủ mùi hôi.

Giai đoạn 3: Bắt đầu bằng việc tế bào ung thư lan sang các hạch bạch huyết và hạch háng: Hạch bẹn to cứng, không đau, thường thấy ở cả 2 bên.

Giai đoạn cuối: Bệnh ung thư sẽ lan rộng ra khắp dương vật và những khu vực khác xa hơn, với biểu biện: Người gầy, nôn ra máu, không muốn ăn.

Phòng bệnh

- Tiêm vắc- xin phòng HPV type 16,18.

- Kiểm tra bao quy đầu cho trẻ khi trẻ còn nhỏ để phát hiện sớm hẹp bao quy đầu và phẫu thuật sớm.

- Vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục, mặc quần thoáng mát thấm mồ hôi, hạn chế mặc quần lót chặt chội.




- Tự quan sát kiểm tra bộ phận sinh dục hàng ngày nếu phát hiện thấy có những biểu hiện bất thường ở dương vật như màu sắc da thay đổi, có các vết loét, trợt da … thì cần đi khám ngay để phát hiện bệnh và điều trị kịp thời.

- Chung thủy một vợ một chồng, đeo bao cao su khi quan hệ tình dục.

- Không hút thuốc lá hay sử dụng các chất kích thích có hại cho sức khỏe.

- Chẩn đoán ung thư dương vật rất dễ dàng
Ung thư dương vật tuy hiếm gặp nhưng lại gây hậu quả nặng nề, nhất là các trường hợp hẹp bao quy đầu, bị bệnh lây nhiễm qua đường tình dục. Khi thấy những dấu hiệu bất thường ở dương vật như có các vết trượt loét, mụn nhọt thay đổi màu sắc da dương vật thì nam giới hãy tới gặp bác sĩ ngay để khám xét và phát hiện bệnh kịp thời để điều trị.

Ung thư da

Da là gì?

Da là cơ quan lớn nhất của cơ thể. Nó bao gồm các cơ quan nội tạng và bảo vệ chúng khỏi bị tổn thương, phục vụ như là một rào cản đối với vi trùng như vi khuẩn, và giúp ngăn ngừa mất nước. Da, giúp kiểm soát nhiệt độ cơ thể và giúp loại bỏ các chất thải cơ thể nhất định. Các tế bào trong da giao tiếp với não bộ và cho phép cảm giác nhiệt độ, cảm ứng, và đau đớn.

Làm thế nào nhiều người bị ung thư da?
Ung thư da là phổ biến nhất của tất cả các loại ung thư. Nó chiếm gần một nửa trong số tất cả các loại ung thư ở Hoa Kỳ. Hơn 3,5 triệu trường hợp của đáy và ung thư da tế bào vảy được chẩn đoán ở đất nước này mỗi năm. U ác tính, các loại nghiêm trọng nhất của ung thư da, sẽ chiếm hơn 73.000 trường hợp ung thư da vào năm 2015.

Ung thư da tế bào đáy và vảy là gì?
Những loại ung thư da được gọi là khối u ác tính không cài đặt chúng ngoài các loại nghiêm trọng hơn của bệnh ung thư da, u ác tính. Họ thường bắt đầu trong các tế bào lót hoặc các tế bào vảy, đó là làm thế nào họ có được tên của họ. Những tế bào này được tìm thấy tại các cơ sở của các lớp ngoài của da.

Hầu hết các bệnh ung thư tế bào đáy và vảy phát triển trên các lĩnh vực tiếp xúc ánh nắng của da, như mặt, tai, cổ, môi, và lưng bàn tay. Tùy thuộc vào loại, họ có thể phát triển nhanh hay chậm, nhưng họ hiếm khi lây lan đến các bộ phận khác của cơ thể.

Tế bào đáy hoặc ung thư tế bào vảy có thể được chữa khỏi nếu phát hiện và điều trị sớm - khi họ còn nhỏ và chưa lan tràn.

Bạn có thể tìm hiểu thêm về các loại ung thư da trong tài liệu của chúng tôi gọi Ung thư da: Bón lót và vảy di động .


Melanoma là một loại ung thư bắt đầu trong melanocytes - các tế bào sản sinh những màu da hay sắc tố gọi là melanin. Melanin giúp bảo vệ các lớp sâu của da khỏi các tác động có hại của mặt trời.

Melanoma là hầu như luôn luôn có thể chữa được khi nó được tìm thấy trong giai đoạn đầu của nó. Mặc dù khối u ác tính chỉ chiếm một tỷ lệ phần trăm nhỏ của ung thư da, nó xa hơn tích cực hơn so với các bệnh ung thư da khác và gây ra hầu hết các trường hợp tử vong ung thư da. Mặc dù nó thường ảnh hưởng đến da (kể cả dưới các móng tay), u ác tính có thể bắt đầu trong mắt , miệng, cơ quan sinh dục, hoặc các khu vực hậu môn, quá.

Melanoma sẽ chiếm hơn 73.000 trường hợp ung thư da xâm lấn vào năm 2015. Nó chiếm hơn 9.900 trong số hơn 13.000 trường hợp tử vong ung thư da mỗi năm.

5 năm tỷ lệ sống tương đối tổng thể cho khối u ác tính là 91%. Đối với khối u ác tính địa phương, đó là 98%; Tỷ lệ sống sót cho bệnh giai đoạn khu vực và xa là 63% và 16%, respec nhiễm. Khoảng 84% các khối u ác tính được chẩn đoán ở giai đoạn bản địa hóa.

Các loại ung thư da
Có một vài loại ung thư hiếm gặp về da như keratoacanthomas, Ung thư tế bào Merkel , lymphoma da , Kaposi sarcoma , khối u phần phụ da, và sacôm . Đây là tất cả các loại không hắc. Bạn có thể tìm hiểu thêm về các trên trang web của chúng tôi hoặc gọi cho chúng tôi để biết thêm thông tin.

Các yếu tố nguy cơ ung thư da là gì?
Các yếu tố nguy cơ cho phi u ác tính và ung thư da hắc tố bao gồm:

Tiếp xúc không được bảo vệ và / hoặc quá mức để tia cực tím (UV) bức xạ (ánh sáng mặt trời hoặc thuộc da và gian hàng đèn)
Da nhợt nhạt (dễ dàng bị cháy nắng, không tan nhiều hoặc ở tất cả, mái tóc màu đỏ hoặc vàng tự nhiên)
Tiếp xúc với môi trường làm việc để nhựa than đá, sân, creosote, các hợp chất asen, hoặc radium
Bạn hay các thành viên khác trong gia đình bạn đã có ung thư da
Nhiều bất thường hoặc nốt ruồi
Cháy nắng nghiêm trọng trong quá khứ
Các dấu hiệu và triệu chứng của ung thư da là gì?
Ung thư da có thể được phát hiện sớm, và cả bác sĩ và bệnh nhân đóng vai trò quan trọng trong việc tìm kiếm ung thư da. Nếu bạn có bất kỳ những triệu chứng này, nhìn thấy một bác sĩ:

Bất kỳ sự thay đổi trên làn da của bạn, đặc biệt là chẩn đoán ung thư da trong các kích thước hoặc màu sắc của nốt ruồi, tăng trưởng, hoặc tại chỗ, hoặc một sự tăng trưởng mới (thậm chí nếu nó không có màu)
Scaliness, rỉ ra, chảy máu, hoặc một sự thay đổi trong cách một vết sưng hoặc nốt vẻ
Một vết loét không lành
Sự lây lan của sắc tố (màu) bên ngoài biên giới của nó, chẳng hạn như màu đen đó lây lan qua các cạnh của một nốt ruồi hoặc dấu
Một sự thay đổi trong cảm giác, chẳng hạn như ngứa, đau, hoặc đau
Ung thư da có thể được ngăn chặn?
Những cách tốt nhất để giảm nguy cơ ung thư da là tránh tiếp xúc lâu dài với ánh nắng cường độ cao và an toàn thực mặt trời. Bạn vẫn có thể tập thể dục và thưởng thức ngoài trời an toàn trong khi sử dụng ánh nắng mặt trời cùng một lúc. Dưới đây là một số cách để được an toàn sun:

Tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời 10:00-4:00 Dạy trẻ những quy tắc bóng: nếu bóng của bạn là ngắn hơn bạn, tia nắng mặt trời là mạnh nhất ở họ.
Tìm bóng mát, đặc biệt là ở giữa những ngày khi các tia nắng mặt trời là mạnh nhất.
Thực hiện theo Phiếu! Bôi! Slap ®! Và Bọc! quy tắc:
Trượt trên một chiếc áo sơ mi: Che với quần áo bảo hộ để bảo vệ da càng nhiều càng tốt khi bạn ra ngoài trong ánh mặt trời. Chọn quần áo thoải mái làm bằng vải dệt chặt đến nỗi bạn không thể nhìn thấy thông qua khi tổ chức cho một ánh sáng.
Bôi kem chống nắng trên: Sử dụng kem chống nắng và kem dưỡng môi với bảo vệ quang phổ rộng và chỉ số chống nắng (SPF) từ 30 trở lên. Áp dụng một lượng lớn chất chống nắng (khoảng một palmful) để da không được bảo vệ ít nhất 30 phút trước khi hoạt động ngoài trời. Bôi lại sau mỗi 2 giờ và sau khi bơi, lau khô, hoặc đổ mồ hôi.
Slap trên một chiếc mũ: Che đầu của bạn với một chiếc mũ rộng vành, che mặt, tai của bạn, và cổ. Nếu bạn chọn một chiếc mũ bóng chày, hãy nhớ bảo vệ tai và cổ của bạn với kem chống nắng.
Quấn trên kính mát: Đeo kính mát với 100% UVA và UVB hấp thụ để bảo vệ đôi mắt của bạn và vùng da xung quanh.
Kem chống nắng không bảo vệ từ tất cả các tia UV, do đó, không sử dụng kem chống nắng là một cách để ở ngoài nắng lâu hơn.
Thực hiện theo các thông lệ để bảo vệ làn da của bạn ngay cả vào những ngày nhiều mây hoặc u ám. Tia UV đi qua các đám mây.
Tránh các nguồn khác của ánh sáng UV. Giường tắm nắng và đèn trời là nguy hiểm. Họ làm hỏng làn da của bạn và có thể gây ra ung thư.
Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ đang làm gì về ung thư da?
Giáo dục: Xã hội cung cấp thông tin y tế chất lượng cao cho công chúng để mọi người có thể đưa ra quyết định cá nhân của thông tin. 
Vận động: Với sự giúp đỡ của các tình nguyện viên ở cơ sở trong các cộng đồng trên khắp cả nước, những người ủng hộ xã hội với các nhà lập pháp ở cả cấp độ bang và liên bang ban hành chính sách y tế có trách nhiệm và tăng kinh phí cho nghiên cứu, thử nghiệm, và bảo hiểm điều trị. Các ACS Cancer Action Network (phi lợi nhuận, phi đảng phái vận động liên kết của Hiệp hội) đã yêu cầu FDA xem xét như thế nào nó điều chỉnh giường tắm nắng để phản ánh mối nguy hiểm được biết đến của họ trong việc tăng hắc tố và không hắc tố nguy cơ ung thư da, và hỗ trợ pháp luật cấm trẻ vị thành niên sử dụng giường tắm nắng trong nhà.
Dịch vụ: Hội hoạt động để cải thiện chất lượng cuộc sống cho những người sống chung với bệnh ung thư thông qua một loạt các dịch vụ và các chương trình hỗ trợ giúp đỡ bệnh nhân và gia đình đối phó với căn bệnh này.
Xã hội cũng hợp tác với nhiều tổ chức trên toàn quốc để thúc đẩy phòng ngừa ung thư da, giáo dục, và các chính sách sun-an toàn.

Sự kiện ung thư âm đạo

Ung thư âm đạo là một loại bệnh (ung thư) các tế bào ác tính hình thành trong âm đạo. Ung thư âm đạo không phải là phổ biến. Khi được tìm thấy trong giai đoạn đầu, nó thường có thể được chữa khỏi.

Có hai loại chính của ung thư âm đạo: ung thư biểu mô tế bào vảy và ung thư tuyến.
Các yếu tố nguy cơ đối với bệnh ung thư âm đạo như bị từ 60 tuổi trở lên, được tiếp xúc với DES trong khi trong bụng mẹ, virus u nhú ở người (HPV) nhiễm trùng, và có một lịch sử của các tế bào bất thường ở cổ tử cung hoặc ung thư cổ tử cung.
Các triệu chứng của ung thư âm đạo bao gồm chảy máu hoặc tiết dịch không liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt, đau khi giao hợp, đau ở vùng xương chậu, và một khối u trong âm đạo.
Để chẩn đoán bệnh ung thư âm đạo, bác sĩ có thể làm một bài kiểm tra vùng chậu, pap smear, sinh thiết, hoặc soi cổ tử cung.
Điều trị ung thư âm đạo bao gồm phẫu thuật, xạ trị và hóa trị.
Tiên lượng phụ thuộc vào giai đoạn của ung thư và liệu nó đã lan rộng, kích thước của khối u, các lớp của các tế bào khối u, nơi mà ung thư nằm trong âm đạo, cho dù có những triệu chứng, tuổi và sức khỏe chung của bệnh nhân, và liệu ung thư vừa được chẩn đoán hay đã tái phát.

Ung thư âm đạo là gì?

Ung thư âm đạo là một bệnh trong đó (ác tính ung thư ) hình thành các tế bào trong âm đạo.

Âm đạo là ống dẫn từ cổ tử cung (khai mạc tử cung) ra bên ngoài của cơ thể. Khi sinh ra, một đứa bé đi ra khỏi cơ thể qua âm đạo (còn gọi là ống sinh).

Ung thư âm đạo không phải là phổ biến. Khi được tìm thấy trong giai đoạn đầu, nó thường có thể được chữa khỏi. Có hai loại chính của ung thư âm đạo:

Triệu chứng ung thư âm đạo biểu mô tế bào vảy: Ung thư hình thành trong các tế bào vảy, các tế bào phẳng mỏng lót âm đạo. Ung thư tế bào vảy âm đạo lan chậm và thường nằm gần âm đạo, nhưng có thể lây lan đến phổi và gan. Đây là loại phổ biến nhất của ung thư âm đạo. Nó được tìm thấy thường xuyên nhất ở phụ nữ độ tuổi từ 60 tuổi trở lên.
Adenocarcinoma: Ung thư bắt đầu trong các tế bào tuyến. Tế bào tuyến trong niêm mạc âm đạo và make thả lỏng như chất nhầy. Adenocarcinoma là nhiều khả năng hơn so với ung thư tế bào vảy để lây lan đến phổi và các hạch bạch huyết. Nó được tìm thấy thường xuyên nhất ở phụ nữ trong độ tuổi 30 hoặc trẻ hơn

Tổng quan ung thư bàng quang

Ung thư bàng quang là một cơ quan rỗng nằm ở bụng dưới (xương chậu). Nó thu thập và lưu trữ nước tiểu được sản xuất bởi thận.


Bàng quang là một cơ quan rỗng nằm ở bụng dưới (xương chậu). Nó thu thập và lưu trữ nước tiểu được sản xuất bởi thận.
Khi bàng quang đạt đến công suất của nước tiểu, các hợp đồng thành bàng quang, mặc dù người lớn có thể điều khiển tự nguyện trong thời gian của sự co này. Đồng thời, một điều khiển cơ niệu (cơ vòng) trong niệu đạo giãn. Nước tiểu được sau đó bị trục xuất khỏi bàng quang.
Các nước tiểu chảy qua một ống hẹp được gọi là niệu đạo và rời khỏi cơ thể. Quá trình này được gọi là đi tiểu, hoặc tiểu tiện.
Ung thư bàng quang xảy ra khi các tế bào bình thường trải qua một cuộc suy thoái, nguy hiểm, hoặc những gì được gọi là một sự biến đổi ác tính làm cho chúng phát triển bất thường và nhân mà không cần điều khiển thông thường. Một khối lượng của các tế bào ung thư được gọi là một khối u ác tính. Các tế bào ung thư có khả năng lây lan sang các khu vực khác của cơ thể thông qua quá trình di căn. Một bệnh ung thư có thể trở thành phá hoại cục bộ đến các mô lân cận đến nơi nó phát sinh. Các tế bào ung thư mà lây lan qua lưu thông chất lỏng mô được gọi là hệ thống bạch huyết hoặc qua dòng máu có thể trở thành phá hoại trong các cơ quan mà họ đã lan rộng. Các ung thư hạn được miêu tả kỹ hơn bởi các mô trong đó nó đã phát sinh. Ví dụ: ung thư bàng quang là một bệnh khác với ung thư phổi. Nếu một tế bào ung thư di căn bàng quang - đó là, lây lan đến phổi qua đường máu nó vẫn được gọi, và được coi là bàng quang cancer- không phải là ung thư phổi.

Các tế bào đó biến hình thành một thời trang ít nguy hiểm hơn có thể vẫn còn nhân và quần chúng dưới hình thức hoặc các khối u. Chúng được gọi là khối u lành tính.

Trong số các loại khác nhau của các tế bào hình thành bàng quang, các tế bào lót bên trong của thành bàng quang có nhiều khả năng phát triển ung thư. Bất kỳ của ba loại tế bào khác nhau có thể trở thành ung thư. Các bệnh ung thư kết quả được đặt tên theo loại tế bào.

Triệu chứng ung thư bàng quang (ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp): Điều này là bởi đến nay các loại phổ biến nhất của ung thư bàng quang ở Hoa Kỳ. Cái gọi là tế bào chuyển tiếp là những tế bào bình thường mà tạo thành lớp đệm của thành bàng quang. Trong ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp, các tế bào niêm mạc bình thường trải qua những thay đổi đó dẫn đến các đặc điểm phát triển tế bào không kiểm soát được bệnh ung thư.
Ung thư biểu mô tế bào vảy: Những bệnh ung thư bắt nguồn từ tế bào mỏng, phẳng mà thường được hình thành như là kết quả của viêm bàng quang hoặc kích thích đã diễn ra trong nhiều tháng hoặc nhiều năm.
Adenocarcinoma: Loại ung thư này hình thành từ tế bào tạo nên các tuyến. Tuyến là những cấu trúc chuyên sản xuất và phát hành lỏng như chất nhầy.
Tại Hoa Kỳ, ung thư biểu mô chiếm urothelial cho hơn 90% của tất cả các bệnh ung thư bàng quang. Ung thư biểu mô tế bào vảy chiếm 3% đến 8%, và tế bào tuyến tạo nên 1% đến 2%.
Chỉ có tế bào chuyển tiếp thường xếp phần còn lại của đường tiết niệu. Hệ thống thu nội bộ của thận, niệu quản (ống hẹp mang nước tiểu từ thận đến bàng quang), bàng quang, niệu đạo và được lót bằng những tế bào này.

Tìm hiểu về bệnh ung thư phần mềm

Ung thư phần mềm còn được gọi là Sarcoma mô mềm, tỉ lệ mắc bệnh khoảng 2/100.000 đến 3/100.000, chiếm 1% khối u ác tính ở người trưởng thành, tỉ lệ mắc bệnh ở các giới tương đương nhau, thông thường thì tỉ lệ mắc bệnh ở người già tương đối cao, đây là một loại u ác tính rất dễ di căn sang các khu vực khỏe mạnh khác, tỉ lệ tử vong là 2%.

Bệnh ung thư phần mềm ác tính thông thường sinh trưởng nhanh, khối u lớn, rất dễ lây lan và làm phá hủy các mô bình thường xung quanh. Khối u sẽ hoại tử, xuất huyết và xuất hiện hiện tượng nhiễm trùng, thông thường là thông qua máu mà di căn sang phổi, xương, da, não, tuyến thượng thận, tuyến tụy. Khi khối u di căn sang phổi, sẽ gây ra hiện tượng ho, đau vùng ngực, nghẹt mũi, như khi khối u xuất hiện sau phúc mạc sẽ gây tắc đường ruột, nghẽn đường tiết niệu.

Bệnh nhân ung thư phần mềm thường tử vong do suy kiệt, giảm cân nghiêm trọng, teo cơ, mệt mỏi, suy nhược, suy sụp tinh thần, suy giảm chức năng cơ thể.
Nguyên nhân của hầu hết các trường hợp Sarcoma mô mềm chưa được biết rõ. Tuy nhiên, phơi nhiễm với tia xạ và một số hoá chất và một số hoá chất và một số bệnh di truyền được biết là những yếu tố nguy cơ các phát sinh Sác-Côm mô mềm. Phẫu thuật là phương pháp điều trị hàng đầu với Sác-Côm mô mềm.

Biểu hiện ung thư phần mềm là các u ác tính có thể xuất hiện ở tất cả các mô có nguồn gốc từ lớp lá phôi giữa ở chi (50%), thân và khoang sau phúc mạc (40%) hoặc là vùng đầu cổ (10%). Hiếm khi những khối u này xuất hiện ở ống tiêu hóa hoặc mô đệm của Ống tiêu hóa, một phần nhỏ của các khối u này còn được gọi là u mô đệm ống tiêu hóa. Các khối u ác tính của mô đệm Ống tiêu hóa có thể xuất hiện từ thực quản tới trực tràng, nhưng thường gặp nhất là ở dạ dày và ruột non. Sác- côm mô mềm xuất hiện với tần suất cao hơn ở những bệnh nhân có bệnh Recklinghausen (u xơ thần kinh), hội chứng Gardner, hội chứng Werner, xơ não đa u, hội chứng nevus tế bào đáy và hội chứng Li-Fraumeni (đột biến gen P53).